Chỉ sau hơn nửa tháng áp dụng mức thuế suất 5% (từ ngày 7/10), ngày 28/10, Bộ Tài chính đã có Quyết định 92/2008/QĐ-BTC về việc điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng sắt thép không hợp kim xuống còn 0%.
Hiện tại, các doanh nghiệp thép tồn khoảng 1 triệu tấn sản phẩm các loại, trị giá khoảng 1 tỷ USD tính theo giá trung bình. Đây là số vón lưu động khổng lồ của các doanh nghiệp, nhất là trong tình trạng khó khăn hiện nay.
Việc tiếp tục giảm thúê suất sẽ là cứu cánh với các doanh nghiệp thép, song sự cứu trợ này lại quá muộn, bởi hàng tồn không tiêu thụ được, khi muốn xuất khẩu và có cơ hội thì thuế suất lại quá cao. Thêo vào đó, doanh nghiệp còn phải đối mặt với các khoản vay ngân hàng, cả gốc và lãi, cũng như cá chi phí thường xuyên . Thị trường trong nước chưa có dấu hiệu khởi sắc, trong khi nguy cơ thép thành phẩm Trung Quốc sẽ tràn vào Việt Nam đang thực sự trở thành mối lo ngại đối với thị trường bán lẻ thép thời điểm hiện tại.
Tình trạng ứ đọng nguyên liệu và sản phẩm thép đã lớn hơn mức bình thường, khiến các công ty sản xuất thép gặp khó khăn về tài chính. Đến thời điểm này, bài toán xuất khẩu phôi thép vẫn không có lời giải, mặc dù mức thuế suất thuế xuất khẩu đã giảm xuống còn 0%. Theo Phó tổng giám đốc kinh doanh Công ty cổ phần Thép Đình Vũ thì mức thuế này cũng chẳng có ý nghĩa gì khi giá phôi thép trên thế giới đã xuống đến 320 USD/tấn, giảm tới 70% so với giá trước. Các doanh nghiệp lẽ ra có lãi, nhưng nay lại phải chịu lỗ tới 60-70%.
Trước tình trạng này, các doanh nghiệp thép đã cùng nhau bàn thảo và thống nhất đưa ra một số giải pháp mang tính tạm thời. CÁc doanh nghiệp kỳ vọng vào việc các ngân hàng có thể giảm lãi suất hoặc gia hạn nợ từ 6 tháng đến 1 năm. Trên thực tế, bắt đầu từngày 5/11, Ngân hàng Nhà nước áp dụng mức lãi suất mới là 12%/năm, thay vì 13%/năm như trước. Trong đó, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) giảm lãi suất cho vay với mức sâu nhất từ trước đến nay là 15%/năm.
Bên cạnh đó, đối với cá dự án đang bị giãn, đình hoãn tiến độ, cơ quan quản lý nên xem xét để giải ngân các dự án có tiềm năng, bởi đây chính là khách hàng lớn nhất của cá doanh nghiệp thép. Đồng thời, cũng nên hạn chế việc nhập khẩu thép thành phẩm của trung Quốc, vì theo các doanh nghiệp thì chỉ cần khoảng 6-8 triệu tấn thép Trung Quốc tràn vào là có thể “ngập” thị trường trong nước. Trong lúc này, thay vì nhập khẩu, nên mua lại thép trong nước để đẩy giá lên đồng thời lại hỗ trợ được doanh nghiệp. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền nên áp dụng hạn ngạch với mọi biện pháp tự vệ để kiểm soát số lượng hàng nhập khẩu. Để có thể nhanh chóng vượt qua giai đoạn khủng hoảng này (ít nhất là đến quý II/2009), các doanh nghiệp thép cũng nên liên kết lại, giúp nhau tránh tổn thất, cố gắng tiêu thụ lượng hàng đang tồn kho.