Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Châu Phi và tỷ trọng trọng tổng kim ngạch của cả nước
Đơn vị: triệu USD
|
Năm |
Tổng kim ngạch |
Tỷ trọng |
Xuất khẩu |
Tỷ trọng |
Nhập khẩu |
Tỷ trọng |
|
1991 |
15,5 |
0,35% |
13,3 |
0,64% |
2,2 |
0,09% |
|
1996 |
39,6 |
0,22% |
26,7 |
0,37% |
12,9 |
0,12% |
|
2001 |
218,1 |
0,70% |
174,9 |
1,16% |
43,2 |
0,27% |
|
2002 |
196,2 |
0,54% |
126,9 |
0,76% |
69,3 |
0,35% |
|
2003 |
372,4 |
0,82% |
229,1 |
1,14% |
143,3 |
0,57% |
|
2004 |
577,8 |
0.99% |
407,5 |
1,54% |
170,3 |
0,53% |
|
2005 |
911,4 |
1,30% |
647,5 |
2% |
263,9 |
0,72% |
|
2006 |
832 |
1% |
610 |
1,5% |
222 |
0,5% |
|
2007 |
1007,8 |
0,9% |
683,5 |
1,4% |
324,3 |
0,5% |
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng từ con số nhỏ bé 15,5 triệu USD năm 1991 lên 218,1 triệu USD năm 2001 và gần 1,008 tỷ USD năm 2007, trong đó xuất khẩu tăng từ 13,3 triệu USD lên 174,9 triệu USD và 651 triệu USD, nhập khẩu tăng từ 2,2 triệu USD lên 43,2 triệu USD và 262,7 triệu USD.
Trao đổi thương mại với các nước Châu Phi tăng trưởng với tốc độ bình quân cao hơn tăng trưởng ngoại thương chung của cả nước trong cùng thời kỳ, trung bình là 31% trong các năm 2001-2007.
Tỷ trọng buôn bán với Châu Phi trong tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam tăng từ 0,35% năm 1991 lên 0,7% năm 2001 và 0,9% năm 2007.