Giá dầu thô giao tháng 9 đã giảm 0,5% xuống còn 66,91 USD/thùng, giảm ngày thứ hai liên tiếp sau khi thị trường chứng khoán Mỹ mất điểm và một báo cáo cho thấy cung dầu tại quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới đã tăng.
Tại Tokyo, giá hợp đồng kỳ hạn tháng 1/2010 kết thúc ngày ở mức 181,9 Yên/kg, giảm 7,1 Yên hay khoảng 3,8% so với ngày hôm trước.
Trong 10 ngày qua, giá cao su đã tăng 24%, đạt trên 190 Yên vào ngày 28/7/2009.
Thái Lan, Indonesia, và Malaysia sẽ giảm xuất khẩu cao su 48.000 tấn/tháng trong nửa cuối năm. Ba nước này sẽ giảm xuất khẩu 540.000 tấn trong 5 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm ngoái, và cao hơn so với kế hoăchj giảm 414.000 tấn trong nửa đầu năm
Giá cao su physical trên thị trường châu Á hầu hết tăng trong ngày 29/7 do nguồn cung khan hiếm bởi mưa ở các nước sản xuất chính như Thái Lan làm giảm sản lượng, trong khi nhu cầu mua vẫn cao.
Thái lan là nước sản xuất cao su hàng đầu thế giới.
Cao su RSS3 của Thái lan giá 1,91 USD/kg, trong khi cao su STR20 giá 1,89 USD/kg. Cả hai loại này đều đang được khách hàng Trung Quốc mua vào.
Các thương gia cũng cho biết các hãng sản xuất lốp xe thế giới đang tìm mua nguyên liệu bởi nhu cầu trên thị trường thế giới có nhiều dấu hiệu hồi phục, khi kinh tế chuyển mình.
Tại Ấn Độ, giá cao su tự nhiên RSS-4 grade hiện là 100 Rs/kg (khoảng 2 USD/kg) trong khi giá quốc tế là 82 Rs/kg. Mức chênh lệch giá cao su tự nhiên lớn giữa thị trường Ấn Độ và thị trường quốc tế (khoảng 16-17 Rs/kg (tương đương 35 cents/kg) làm cho xuất khẩu cao su tự nhiên của Ấn Độ bất lợi.
Nếu tình trạng này tiếp tục trong những tháng tới, Ấn Độ sẽ không thể xuất khẩu cao su tự nhiên. Và mục tiêu xuất khẩu ít nhất là 10.000 tấn tài khoá 2009-2010 khó có thể đạt được. Trong khi đó, sản lượng cao su tự nhiên có xu hướng giảm do thời tiết khô hạn: tháng 5/2009 chỉ đạt 54.000 tấn so với 60.000 tấn cùng kỳ năm trước và sản lượng cả tháng 4 và tháng 5/2009 đạt 106.000 tấn, giảm 9,4%. Tồn kho tới cuối tháng 5/2009 tăng lên 178.000 tấn so với 150.000 tấn cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu cao su tự nhiên của Ấn Độ đang giảm sút do tình trạng tăng chênh lệch giữa giá cao su tự nhiên tại Ấn Độ và giá quốc tế.
Xuất khẩu tháng 5/2009 đạt 94 tấn và xuất khẩu cả tháng 4 và tháng 5/2009 chỉ đạt 818 tấn, giảm 88% so với 6.849 tấn cùng kỳ năm ngoái. Nhập khẩu tháng 5/2009 là 14.322 tấn và nhập khẩu cả tháng 4 và tháng 5/2009 là 24.743 tấn, tăng 75% so với cùng kỳ năm ngoái.
Nhập khẩu cao su tự nhiên của Ấn Độ quý I tài khoá 2009-2010 là 44.093 tấn, tăng 107% so với 21.259 tấn tài khoá trước. Tính từ đầu tài khoá đến tháng 11/2009, tổng nhập khẩu cao su tự nhiên đạt 51.000 tấn trong khi nhập khẩu của cả tài khoá 2008-2009 là 79.927 tấn. Riêng tháng 6/2009, Ấn Độ nhập khẩu 15.000 tấn. Dự báo, tài khoá 2009-2010, nhập khẩu cao su tự nhiên của Ấn Độ có thể đạt mức 150.000 tấn do tình hình thị trường quốc tế có lợi cho việc nhập khẩu số lượng lớn.
Hiện tượng tăng mạnh nhập khẩu cao su tự nhiên của Ấn Độ còn do tăng dự trữ lên 188.000 so với mức 136.000 tấn tính đến tháng 6/2008 trong khi đó snr lượng cao su tự nhiên từ 4-6/2009 giảm còn 159.520 tấn so với mức 179.565 tấn cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tiêu dùng chỉ giảm ít so với mức tiêu dung 215.300 tấn cùng kỳ năm trước.
Giá cao su physical trên thị trường châu Á ngày 29/7
|
Loại |
Giá |
+/- |
|
Tokyo, T1/2010 |
181,9 Yên/kg |
-7,1 Yên |
|
Thai RSS3 (T8) |
1,93 USD/kg |
+0,03 |
|
Thai RSS3 (T9) |
1,93 USD/kg |
+0,03 |
|
Thai STR20 (T8) |
1,90 USD/kg |
+0,03 |
|
Thai STR20 (T9) |
1,90 USD/kg |
+0,03 |
|
Malaysia SMR20 (T8) |
1,84 USD/kg |
-0,03 |
|
Malaysia SMR20 (T9) |
1,84 USD/kg |
-0,03 |
|
Indonesia SIR20 (T8) |
0,78 USD/lb |
0 |
|
Indonesia SIR20 (T9) |
0,78 USD/lb |
0 |
|
Thai USS3 |
60 baht/kg |
+2 |
|
Thai 60-percent latex (drums, T8) |
1.380 USD/tấn |
+80 |
|
Thai 60-percent latex (bulk, T8) |
1.300 USD/tấn |
+20 |