Chỉ số than hàng tuần Newcastle đóng cửa tại 51,13 USD/tấn vào hôm 1/4, giảm từ mức cao trong năm nay tại 52,59 USD đã chạm tới vào 11/3. Mức đỉnh này đã đóng lại đợt tăng 11% từ mức thấp gần 10 năm tại 47,37 USD/tấn đã xuống trong tuần 21/1.
Giá than rất có thể hưởng lợi từ tâm lý tốt hơn với các hàng hóa nói chung mà đã thấy trong đợt tăng giá quặng sắt và dầu thô những tuần gần đây.
Nhưng trong khi có thể có một số yếu tố cơ bản tích cực trong các thị trường hàng hóa khác, với những dấu hiệu dự kiến phục hồi trong lĩnh vực rộng lớn của Trung Quốc, không có tia hy vọng trong bối cảnh khó khăn đối với lĩnh vực than.
Chỉ số quản lý sức mua chính thức của Trung Quốc tháng 3 tăng lần thứ 9 trong 9 tháng, tăng lên 50,2, tăng từ mức 49 trong tháng 2.
Trong khi điều này có thể báo trước thời điểm tốt hơn trong tương lai cho các lĩnh vực như quặng sắt, thép, nhôm, đồng và dầu thô, niềm vui này không được chia sẻ cho ngành than.
Trung Quốc có mục tiêu giữ mức tăng trưởng trong tổng nhu cầu năng lượng chỉ 0,9% năm 2016, cùng tốc độ như năm 2015, theo Cơ quan Năng lượng Quốc gia.
Đối với ngành than, phần quan trọng là kế hoạch này lại kêu gọi cắt giảm tổng thị phần than xuống 63% từ mức 64% năm ngoái.
Nếu cắt giảm 1% nghe dường như không đáng kể, lưu ý rằng giá trị tổng nhu cầu năng lượng là khoảng 4,34 tỷ tấn than, nghĩa là 1% khoảng 43,4 triệu tấn.
Trong khi tiêu thụ than giảm hầu như là kết quả sản lượng trong nước thấp hơn, nếu lấy từ nhập khẩu, nó sẽ chiếm khoảng 1/5 tổng nhập khẩu 204,06 triệu tấn năm 2015.
Trung Quốc có kế hoạch giảm 60 triệu tấn sản lượng than nội địa trong năm nay và 500 triệu tấn trong 5 năm tới.
Tuy nhiên điều này không nhất thiết phải tăng nhập khẩu, ngay cả khi việc giảm quy mô này sẽ vẫn đủ than trong nước để đáp ứng nhu cầu, cho phép nhập khẩu cạnh tranh về giá ở các thị trường cụ thể, đặc biệt tại khu công nghiệp đông nam Trung Quốc.
Trong hai tháng đầu năm nay, nhập khẩu than của Trung Quốc đã giảm 10,2%, tốc độ sụt giảm chậm hơn so với mức sụt giảm gần 30% đã trải qua trong năm 2015.
Nhưng nhìn vào chi tiết cho thấy các nhà xuất khẩu than lớn Australia và Indonesia đang gắng sức để vận chuyển nhiên liệu này sang khách hàng hàng đầu thế giới này.
Nhập khẩu từ Australia giảm gần 18% trong hai tháng đầu năm so với cùng giai đoạn năm trước, trong khi nhập khẩu từ Indonesia giảm 21,7%.
Nước chiến thắng bất ngờ tại Trung Quốc trong năm nay là Triều Tiên, đã tăng 26,9% xuất khẩu sang nước láng giềng và hiện nay chỉ sau Indonesia như là nước cung cấp lớn thứ ba.
Nhập khẩu giảm tại các nước mua hàng đầu
Ngoài Trung Quốc có ít lý do cho các nhà xuất khẩu than lạc quan, với nhập khẩu bởi khách hàng lớn thứ hai, Ấn Độ vẫn theo xu hướng giảm mặc dù tăng khiêm tốn trong tháng 2.
Ấn Độ đã nhập khẩu 16,79 triệu tấn trong tháng 2, tăng 1,7% so với cùng tháng năm trước đó, tháng tăng đầu tiên trong 8 tháng.
Nhưng dựa vào công ty than nhà nước Coal India gần đây đã giảm quy mô hoạt động do tăng trưởng tiêu dùng yếu hơn tăng trưởng nguồn cung, có khả năng xu hướng nhập khẩu giảm này sẽ vẫn duy trì.
Tổng nhập khẩu than của Nhật Bản tăng 1,2% trong tháng 2 so với một năm trước, nhưng lượng nhập khẩu của nước nhập khẩu đứng thứ ba này giảm 1,9% trong hai tháng đầu năm nay.
Hàn Quốc, nhà nhập khẩu than lớn thứ 4 châu Á cho biết lượng nhập khẩu của họ giảm 17,6% trong tháng 2 so với tháng 2/2015, và đã giảm 6,5% trong hai tháng đầu năm nay.
Với lượng nhập khẩu giảm trong hai tháng đầu năm nay tại 4 nước nhập khẩu lớn nhất châu Á, rõ ràng rằng không có bằng chứng nhu cầu cho sự tăng giá than đáng kể.
Có một số yếu tố tích cực đối với lĩnh vực than trong dài hạn tại khu vực này, như việc khởi công xây dựng nhà máy điện chạy than 2.000 MW tại Indonesia và kế hoạch đối với các nhà máy mới tại các nước khác như Nhật Bản. Nghĩa là các nhà xuất khẩu than phải giải quyết thị trường yếu hiện nay trong khi hy vọng tăng trưởng nhu cầu trong tương lai.
Indonesia vẫn nước điều tiết chính của việc cân bằng thị trường, với sản lượng tại quốc gia đông nam Á này dự kiến giảm xuống khoảng 350 triệu tấn trong năm 2016 từ mức 391 triệu. Ngành công nghiệp ngày dự kiến xuất khẩu giảm xuống chưa tới 300 triệu tấn trong năm nay từ mức 330 – 360 triệu tấn năm ngoái do các mỏ than vẫn bị áp lực giá thấp.
Xuất khẩu than của Australia cũng đang giảm, với cảng Newcastle, cảng xuất khẩu than lớn nhất thế giới báo cáo 24,72 triệu tấn than đã xuất khẩu trong hai tháng đầu năm nay, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm 2015.
Bức tranh tổng thể từ lĩnh vực than là nhu cầu yếu từ các nhà nhập khẩu và việc tiếp tục điều chỉnh nguồn cung từ các nhà xuất khẩu.
Nguồn: Phòng Thông tin kinh tế quốc tế - VITIC/Reuters

Nguồn: Reuters