Thị trường than nhiệt châu Âu chứng kiến sự biến động mạnh. Chỉ số giảm xuống 116 USD/tấn vào giữa tuần, nhưng khi kết thúc vào cuối tuần, giá đã trở lại mức của tuần trước, trên 121 USD/tấn. Giá chịu áp lực do lượng dự trữ than ARA tăng nhẹ, cũng như sản lượng điện từ năng lượng tái tạo tăng.
Giá than Nam Phi loại High-CV 6,000 tiếp tục tăng trên 113 USD/tấn do sự không chắc chắn về nguồn cung từ Indonesia, cũng như nhu cầu tăng cao từ Ấn Độ và khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Công ty khai thác mỏ Exxaro dự kiến khối lượng xuất khẩu than Nam Phi sẽ tăng 13% lên 8,0 triệu tấn trong năm nay, khi công ty tăng cường vận chuyển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng từ Nhật Bản. Exxaro dự báo doanh số xuất khẩu năm 2026 đạt 7,3-8,0 triệu tấn, tăng từ 7,1 triệu tấn năm 2025, được hỗ trợ bởi những cải thiện hơn nữa về hiệu suất từ nhà điều hành đường sắt Transnet.
Tại Trung Quốc, giá than 5.500 NAR giao ngay tại cảng Qinhuangdao đã điều chỉnh giảm xuống còn 106 USD/tấn. Áp lực giảm giá xuất phát từ việc gia tăng sản lượng điện từ năng lượng tái tạo và lượng tồn kho tăng cao.
Lượng tồn kho tại 9 cảng lớn tăng lên 27,31 triệu tấn (+1,40 triệu tấn so với tuần trước), trong khi lượng tồn kho tại 6 nhà máy nhiệt điện ven biển lớn tăng lên 13,12 triệu tấn (+0,20 triệu tấn so với tuần trước).
Giá than 5.900 GAR của Indonesia vượt quá 92 USD/tấn, trong khi giá than 4.200 GAR tăng lên 60 USD/tấn. Than của Indonesia tiếp tục trở nên đắt hơn do sản lượng và khối lượng xuất khẩu giảm.
Giá than High-CV 6000 của Úc giảm nhẹ xuống còn 134 USD/tấn. Các bên tham gia thị trường kỳ vọng nhu cầu từ Hàn Quốc sẽ tăng sau khi nước này quyết định dỡ bỏ giới hạn sản lượng điện than để đảm bảo an ninh năng lượng trong bối cảnh nguồn cung LNG không chắc chắn. Tỷ lệ than đá cao hơn trong cơ cấu năng lượng của Hàn Quốc có thể đẩy giá than High-CV lên cao hơn.
Chỉ số than luyện kim HCC của Úc đảo chiều, tăng lên 224 USD/tấn, được hỗ trợ bởi sự gia tăng nhu cầu mua do lo ngại nguồn cung các lô hàng giao tháng 5 có thể bị thắt chặt.