Triển vọng nguồn cung dầu ăn Ấn Độ sẽ ngày càng kém xa so với nhu cầu, khiến quốc gia này phải gia tăng phụ thuộc vào dầu ăn nhập khẩu.
Đến nay đã có 3 dự báo của nhóm phóng viên này trở thành hiện thực, đó là vấn đề về sản lượng dầu cọ thô (CPO), chu kỳ sinh học của cây cọ dầu diễn ra đúng như dự báo và đồng đô la Mỹ bắt đầu mất giá. Ngoài ra, các dự báo lạc quan này đã được thực hiện giữa lúc bất ổn kinh tế rất lớn và thị trường bên ngoài khá yếu.
Thực tế đáng buồn bởi quy mô của vụ mùa hạt có dầu tại Ấn Độ không còn được thế giới nhìn nhận. Các nông dân trở nên khôn khoan hơn và kỳ vọng giá cao hơn. Giá hỗ trợ tối thiểu cây hạt có dầu đang ở mức quá thấp. Trên thị trường Ấn Độ, giá đậu tưông quy đổi là 8,40 USD/giạ, thấp hơn giá thế giới hiện nay 25%. Nếu để mức giá 11,50 USD/giạ, tương đương với khoảng 20.000 Rupi Ấn Độ/tấn sẽ là mức giá công bằng đối với người nông dân năm nay. Do đó khả năng người nông dân sẽ chỉ đưa đậu tương ra thị trường nếu giá ở mức này hoặc cao hơn.
Tổng lượng dầu thực vật phải nhập của Ấn Độ trong niên khóa dầu tính từ tháng 11/2009 đến tháng 10/2010 là 9 triệu tấn. Nhập khẩu dầu của Ấn Độ ngày càng mạnh hơn và tiêu thụ dầu thực vật đã ở mức cao.
Nhiều chuyên gia Ấn Độ đã lên tiếng báo động về các mức dự trữ tại Ấn Độ. Đó sẽ là dấu hiệu của một nền kinh tế tự cung tự cấp tằn tiện nếu các kho dự trữ ở mức rất thấp.
Nhập khẩu dầu thực vật của Ấn Độ trong niên khóa dầu tiếp theo (bắt đầu từ tháng 11/2010 đến tháng 10/2011) sẽ tăng thêm, lên 9,3 đến 9,5 triệu tấn. Sản lượng các hạt có dầu sẽ phục hồi phần nào nhưng sản lượng này không còn thích hợp và ngày càng ít đi qua mỗi năm.
Trung Quốc đã đi theo cách này và Ấn Độ đơn giản là bước theo con đường đó. Còn quá sớm để nói Ấn Độ sẽ nhập khẩu các loại dầu nào vào năm tới nhưng rõ ràng nhập khẩu dầu hướng dương sẽ giảm do giá cao. Khối lượng nhập dầu đậu nành cao hơn sẽ phụ thuộc vào tương quan giá với dầu cọ. Tuy nhiên cần lưu ý rằng những ước tính này chỉ là dự kiến do hạt cải dầu đã không được trồng.
Ước tính nhập khẩu dầu thực vật niên khóa 2010-2011 là 400.000 tấn dầu hướng dương; 1,5 triệu tấn dầu đậu nành; 200,000 tấn dầu lauric và 7,2 triệu tấn dầu cọ.
Triển vọng kinh tế chung năm 2011 vẫn không rõ ràng ở các nước phát triển và sẽ mạnh trong khối các nước đang phát triển.
Dự báo lãi suất vẫn giữ ở mức thấp trong thời gian dài và đồng đô la Mỹ vẫn yếu. Khối EU sẽ tiếp tục trợ giúp các nước thành viên yếu kém và đồng đô la Mỹ tiếp tục yếu so với đồng Euro. Các đồng tiền của Trung Quốc, Ấn Độ và các nước đang phát triển có thể vẫn giữ mức tăng giá so với đô la Mỹ. Dựa trên phân tích này, giá dầu cọ sẽ đi xuống với độ dịch chuyển thấp hơn trong 4 đến 6 tuần tới. Từ giờ đến cuối tháng 10, dầu cọ sẽ mất giá từ 150 đến 200 Rupi.
Sau thời gian ngắn ở mức yếu, giá cả bắt đầu phục hồi do xuất khẩu duy trì mạnh, áp lực mùa màng tại các điểm như Ấn Độ và Trung Quốc giảm xuống và các kênh cung cấp lại được lấp đầy.
Đối với đậu tương, các nhà lãnh đạo Argentina được kết hợp với nhóm vận động nông dân để giảm thuế xuất khẩu đậu tương và các sản phẩm từ đậu tương từ 1/1/2011. Do đó hiện tại nông dân sẽ bán ít và những yếu tố này sẽ tiếp tục giữ phí bảo hiểm rất cao.
Trong tháng 12 giá dầu đậu tương cũng tăng lên và vào tháng 1 đạt tới mức giá FOB tại Argentina là 1050 USD. Giá dầu hạt cải cũng leo lên mức 1200 USD trong quý đầu của năm 2011.
Cuối cùng các loại dầu lauric sẽ có được những triển vọng lạc quan nhất. Giá dầu dừa cũng lên mức 1250 USD giá FOB và sẽ tiếp tục tăng vượt 1300 USD giá CIF Rotterdam do đó phải hạn chế nhu cầu.
Mối đe dọa lớn nhất với giá dầu thực vật đến từ các thị trường bên ngoài. Nếu chứng khoán tăng vì một lý do nào đó, thì giá mọi hàng hóa sẽ giảm và sẽ làm giảm giá dầu thực vật và hạt có dầu.
Kinh tế thế giới đang phát triển một lần nữa, nhưng sự tăng trưởng đó không chắc chắn, với các nước phát triển vẫn chưa thoát ra khỏi bất ổn. Sự ảnh hưởng lẫn nhau là mối đe dọa lớn nhất đối với thị trường của chúng ta. Ngoài ra còn mối đe dọa là giá dầu thô có thể giảm hoặc đồng đô la Mỹ mạnh lên