Tuy nhiên, cả hai nỗ lực trên đều như muối bỏ biển, chỉ đủ gây ra hiệu ứng trong thời gian rất ngắn. Bằng chứng là sau khi hạ xuống một chút, giá dầu lập tức quay đầu tiếp tục đi theo biểu đồ “lùi ba bước, tiến bốn bước”. Đặc biệt, sau khi Hội nghị dầu mỏ Giê-đa tại A-rập Xê-út vừa kết thúc mà không đạt được một cam kết cụ thể nào để bình ổn giá, thì dầu mỏ lại tăng tốc, đạt mức 138,22 USD/thùng tại thị trường Niu Y-oóc vào ngày 24-6.
Nếu so với cùng kỳ năm 2007, giá dầu đã tăng gấp đôi và nếu chỉ tính riêng trong năm 2008 thì mức tăng của loại nhiên liệu chiến lược này là khoảng 40%. Theo giới chạy dầu phố U-ôn ở Niu Y-oóc (Mỹ), cơn phi mã của giá dầu dường như sẽ khó dừng bởi có quá nhiều yếu tố rủi ro trong việc kiểm soát nó.
Lợi nhuận từ buôn bán dầu trong thời gian gần đây đã vượt quá sức tưởng tượng của nhiều chuyên gia kinh tế, khiến hàng loạt nhà tài phiệt đổ tiền kinh doanh dầu thông qua các quỹ rủi ro và ngân hàng đầu tư. Theo tính toán của Liên minh người tiêu dùng Mỹ, trong cơ cấu giá 120 USD/thùng, 40 USD là giá trị kinh tế thật, 40 USD là do các nước OPEC thêm vào và 40 USD là do giới đầu cơ gây ra. Giá dầu càng tăng, giới đầu cơ càng có lợi. Đó là lý do tại sao các quỹ đầu cơ hàng hóa (chủ yếu là dầu) tới nay đã huy động được trên 260 tỷ USD (gấp 20 lần so với năm 2003) để đổ vào thị trường béo bở này. Điều này đang đúng với lời khuyên tư bản rằng, khi chiến tranh bùng nổ thì hãy mua bất động sản; còn khi giá dầu cao thì hãy đổ tiền vào các giếng khoan.
Đồng thời, cũng phải thấy rằng với quyền sở hữu trên 80% giá trị hợp đồng dầu trên thế giới hiện nay, các nhà đầu cơ hoàn toàn có thể “làm mưa làm gió” với giá. Liệu họ có hy sinh một phần lãi để bớt cơn nóng của giá dầu? Câu trả lời với các nhà buôn dầu hiện nay là: không! Chỉ có điều chắc chắn rằng họ sẽ không đẩy giá dầu lên mức khiến nền kinh tế thế giới sụp đổ, gây tác dụng ngược với chính họ. Đây là yếu tố chính tạo ra sự chập chờn đến  khó  chịu  của giá dầu. Nó đã  khiến  nhiều  chính phủ,  nhiều đất nước từ  phát  triển  đến  đang  phát  triển và đương nhiên là cả những nước nghèo rơi vào bất an.
Một nhân tố khác là những giếng dầu lớn trên thế giới lại nằm ở khu vực nhạy cảm, đang bên bờ của một cuộc xung đột khó lường như vùng Vịnh và miền Trung châu Phi. Những rắc rối này thật khó giải quyết trong một sớm, một chiều khiến các nhà đầu cơ càng có cớ đưa ra mức giá dầu mới. Vì vậy mà giá dầu đã không ngừng tăng trong những ngày qua.
Sự leo thang của giá dầu đang thực sự đe dọa nền kinh tế thế giới. Lần đầu tiên người Anh đã phải tính đến việc tăng nguồn năng lượng nguyên tử để bớt phụ thuộc vào dầu mỏ. Tương tự như vậy, người Mỹ đã mạo hiểm khi tính đến việc khai thác trở lại các giếng dầu nội địa ở cả miền Đông lẫn miền Tây.
Do không ngân sách nào chịu đựng nổi gánh nặng hiện nay do trợ giá xăng, dầu, nên chính phủ nhiều nước trong hai quý vừa qua đã buộc phải tăng giá như: In-đô-nê-xi-a (tăng 30%), Xri-lan-ca (tăng 24%), Ma-lai-xi-a (tăng trên 41%) và gần đây nhất là Trung Quốc (tăng 18%)...
Thế nhưng, tăng giá xăng, dầu cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận lạm phát cao hơn. Bằng chứng cho thấy sau khi tăng giá xăng dầu, tỉ lệ lạm phát ở In-đô-nê-xi-a từ 9% nay đã vươn lên 12%. Nhưng nếu các chính phủ duy trì trợ giá xăng, dầu thì hưởng lợi nhiều nhất vẫn là những người dùng xe hơi, máy lạnh, thiết bị ngốn nhiều điện. Một nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) có trụ sở tại Oa-sinh-tơn vừa công bố cho thấy 20% hộ gia đình giàu nhất nhận đến 42% khoản trợ giá xăng dầu và 20% số hộ nghèo nhất chỉ nhận dưới 10% khoản trợ giá xăng dầu.
Để giải quyết bài toán nhiều biến số từ giá xăng, dầu, theo các chuyên gia kinh tế, các chính phủ sẽ không chỉ phải đẩy mạnh nghiên cứu, sử dụng năng lượng thay thế hay tiết kiệm năng lượng, rút ngắn đường vận chuyển... mà quan trọng hơn là phải thực hiện minh bạch hóa thị trường dầu mỏ. IMF đã bắt đầu đi vào “mê cung” này, nhưng kết quả ra sao phải đến “hồi sau” mới rõ.
(Vietstock)

Nguồn: Internet