Trong tuần, có lúc giá cao su kỳ hạn tại Tokyo giảm xuống chỉ còn 193,8 yen/kg (2.168 USD/tấn) – vào ngày 30/9/2009, khi đồng yen Nhật tăng lên mức cao nhất trong 8 tháng so với USD, giảm sức hút của hợp đồng giao dịch bằng đồng yen. Khi đó, giá cao su tại thị trường Thượng Hải cũng giảm xuống còn 16.690 NDT/tấn (2.445 USD/tấn) do dự trữ tại Trung Quốc tăng làm nảy sinh lo ngại nhu cầu tại nước tiêu dùng lớn nhất thế giới có thể chững lại.
Dự trữ cao su tại một số sàn giao dịch ở Trung Quốc tăng 6.584 tấn lên mức 98.253 tấn, cao nhất kể từ 11/2007. Nhập khẩu cao su tự nhiên của Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm tăng 2,4% so với môt năm trước lên mức 1,15 triệu tấn.
Dự đoán Nhật Bản sẽ không can thiệp để cản đà tăng giá của đồng nội tệ đã đẩy tăng mạnh giá đồng Yên vào giữa tuần qua.
Dự trữ cao su tại Nhật bản trong 10 ngày đầu tháng 9/2009 đạt 6.654 tấn, giảm khoảng 0,9% so với 10 ngày trước đó.
Từ đầu tháng 10, giá cao su tăng trở lại khi giá dầu thô hồi phục và đồng Yên Nhật rơi khỏi mức cao nhất của 8 tháng.
Giá cao su tăng 45% kể từ đầu năm do doanh số bán xe tại Trung Quốc tăng mạnh. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô xe máy Trung Quốc, doanh số bán xe khách tại nước này trong tháng trước tăng kỷ lục 90%.
Kết thúc ngày 1/10/2009, giá cao su tại Tokyo tăng 4%. Giá dầu tăng trở lại và nguồn cung cao su ở Thái Lan khan hiếm hỗ trợ thị trường cao su hồi phục giá.
Trên thị trường Tokyo, hợp đồng kỳ hạn tháng 3 giá tăng tới 205 Yên/kg, tăng 4,2% so với ngày hôm trước.
Trên thị trường Malaysia, giá cao su tăng do có sự điều chỉnh mang tính kỹ thuật. Uỷ ban Cao su Malaysia báo giá loại SMR 20 tăng 4 sen lên 727,50 sen/kg, trong khi mủ cao su giá tăng 1 sen lên 467 sen/kg.
Nguồn cung ở Thái Lan khan hiếm. Thái Lan là nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới. Nguồn cung ở đây đang giảm do mưa, càng góp phần đẩy giá tăng lên, mặc dù hoạt động mua vào không sôi động, do Trung Quốc - nước tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới – đang nghỉ ngày Quốc khánh. Thị trường Trung Quốc sẽ đóng cửa nghỉ giao dịch trong 8 ngày nhân dịp này.
Tại Ấn Độ, tính đến tháng 9 tài khoá 2009-2010, nhập khẩu cao su tự nhiên đạt mức hơn 100.000 tấn, so với mức 79.927 tấn cùng kỳ tài khoá năm trước. Riêng tháng 8/2009, nhập khẩu là 21.339 tấn so với mức 20.412 tấn tháng 7/2009 và mức 3.844 tấn tháng 8/2008.
Nhập khẩu cao su tự nhiên vào Ấn Độ trong tài khoá 2009-2010 ước tính sẽ dao động từ mức 125.000 tấn đến 150.000 tấn. Khả năng nhập khẩu cao su tự nhiên sẽ giảm vào những tháng cuối năm do mức chênh lệnh giá giữa thị trường trong nước và quốc tế giảm dần, quota nhập khẩu chỉ còn ít (khoảng 25.000 tấn nữa) và vụ cao su của Ấn Độ sẽ bắt đầu vào tháng tới.
Do ngành sản xuất săm lốp phát triển trở lại cho nên mức tiêu dùng tháng 8/2009 tăng tới mức 78.500 tấn so với 15.850 tấn cùng kỳ năm trước. Tiêu dùng từ tháng 4 đến tháng 8/2009 tăng lên 3,76 triệu tấn so với 3,68 triệu tấn cùng kỳ năm trước.
Sản lượng cao su tháng 8/2009 giảm còn 64.000 tấn so với 73.250 tấn cùng kỳ năm ngoái. Từ tháng 4 đến tháng 8 năm tài khoá 2009-2010, sản lượng giảm còn 2,73 triệu tấn so với 3,15 triệu tấn.
Xuất khẩu tháng 8/2009 chỉ ở mức 878 tấn so với mức 28,646 tấn cùng kỳ năm trước và mức xuất khẩu tài khoá 2009-2010 là 50.000 tấn khó đạt được.
Giá cao su physical tại Châu Á tuần 25/9 - 1/10/2009:
|
Loại |
Giá 1/10 |
Giá 25/9 |
|
Thai RSS3 (T10) |
2,20 USD/kg |
2,15 USD/kg |
|
Thai RSS3 (T11) |
2,20 USD/kg |
2,15 USD/kg |
|
Thai STR20 (T10) |
2,15 USD/kg |
2,12 USD/kg |
|
Thai STR20 (T11) |
2,15 USD/kg |
2,12 USD/kg |
|
Malaysia SMR20 (T10) |
2,13 USD/kg |
2,12 USD/kg |
|
Malaysia SMR20 (T11) |
2,13 USD/kg |
2,12 USD/kg |
|
Indonesia SIR20 (T10) |
0,955 USD/lb |
0,94 USD/lb |
|
Indonesia SIR20 (T11) |
0,955 USD/lb |
0,94 USD/lb |
|
Thai USS3 |
67 baht/kg |
66 baht/kg |
|
Thai 60-percent latex (drums, T10) |
1.450 USD/tấn |
1.450 USD/tấn |
|
Thai 60-percent latex (bulk, T10) |
1.350 USD/tấn |
1.350 USD/tấn |