• Dầu giảm giá 2% do sản xuất Trung Quốc và Eurozone yếu kém
  • Đồng giảm giá 2%, vàng thấp nhất kể từ tháng 1
  • Lúa mì tăng giá do lo ngại về thời tiết ở Mỹ

(VINANET) – Biến động giá dầu cho thấy bắt đầu có dấu hiệu xuống giá, với dầu thô giảm giá khoảng 2% vào lúc đóng cửa phiên giao dịch 22/3 (kết thúc vào rạng sáng 23/3 giờ VN), sau số liệu từ Trung Quốc và châu Âu cho thấy sản xuất yếu kém.

Vàng cũng giam giá, xuống mức thấp nhất 2 tuần, bởi lo ngại về triển vọng kinh tế Trung Quốc và châu Âu. Đồng và một số nông sản khác, trong đó có lúa mì, cũng giảm giá.

Chỉ số 19 nguyên liệu Thomson Reuters-Jefferies CRB giảm 1,2%, mức giảm mạnh nhất trong vòng 2 tuần, trong đó cà phê arabica giảm giá mạnh nhất, giảm hơn 4%.

Dầu thô Mỹ giảm giá 1,92 USD xuống 105,35 USD/thùng. Loại dầu này đã giảm giá hơn 2 USD chỉ mới 2 ngày trước đây, sau đó hồi phục trở lại vì lo ngại khan hiếm nguồn cung do Iraq.

Dầu Brent tại London giá giảm hơn 1 USD xuống chỉ khoảng 124 USD.

“Lúc này mọi sự chú ý đang dồn vào Trung Quốc, nơi sản xuất tiếp tục giảm tốc, và chúng tôi dự báo thị trường sẽ còn tiếp tục biến động bởi không ai biết liệu Trung Quốc có hạ cánh an toàn hay không”, nhà chiến lược hàng hóa Filip Petersson của công ty SEB ở Stockholm nhận định.

Hoạt động sản xuất ở Trung Quốc giảm tháng thứ 5 liên tiếp, gây lo ngại về những rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu. HSBC công bố chỉ số quản lý sức mua – dấu hiệu đầu tiên về hoạt động công nghiệp của Trung Quốc – tháng 3 giảm xuống 48,1, từ mức cao nhất 4 tháng là 49,6 của tháng 2. Chỉ số dưới 50 cho thấy sự giảm sút.

Tại châu ÂU, chỉ số quản lý mua hàng (PMI) tổng hợp giảm thấp nhất 3 tháng từ 49,3 điểm xuống 48,7 điểm trong tháng 3. Chỉ số PMI dịch vụ giảm từ 48,78 điểm xuống 48,7 điểm, trong khi chỉ số PMI ngành sản xuất giảm từ 49,9 điểm xuống 47,7 điểm.

Vàng, giao dịch như những hàng hóa rủi ro và tài sản tài chính hơn là chỉ báo địa chính trị và kinh tế - giảm giá xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1.

Giá vàng giao ngay giảm hơn 3% xuống đáy dưới 1.630 USD/ounce.

Sau khi tăng hơn 11% trong tháng 1, giá vàng đã liên tiếp giảm trong 7 tuần qua, mặc dù vẫn cao hơn gần 5% so với hồi đầu năm.

Thị trường vàng giảm giá bởi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ ít tỏ tín hiệu cho thấy sẽ tung ra chương trình nới lỏng định lượng lần 3 trong bối cảnh kinh tế Mỹ mạnh lên. Tuy nhiên, số liệu lạm phát của Mỹ ngăn đà giảm giá vàng.

Giá tiêu dùng của Mỹ tháng Hai tăng cao nhất kể từ tháng 4 năm ngoái khi chi phí xăng dầu tăng vọt, nhưng có ít dấu hiệu cho thấy áp lực lạm phát cơ bản đang gia tăng.

Báo cáo của Bộ Lao động Mỹ công bố ngày 16/3 cho thấy chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 2/2012 đã tăng 0,4% sau khi mức tăng trong tháng trước đó là 0,2%, do giá xăng dầu tăng mạnh (xăng dầu chiếm hơn 80% nhân tố tác động lên mức tăng này). Nếu không tính đến biến động của giá thực phẩm và nhiên liệu, chỉ số giá tiêu dùng lõi chỉ tăng 0,1%.

Thị trường việc làm Mỹ tiếp tục khả quan, với số đơn xin trợ cấp thất nghiệp Mỹ tuần trước giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 2/2008 cho thấy thị trường lao động Mỹ tiếp tục phục hồi. Theo số liệu của Bộ Lao Động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tuần kết thúc ngày 17/3 giảm 5.000 đơn xuống còn 348.000 đơn.

Giá đồng kỳ hạn tại London giảm khoảng 2% xuống 8.290 USD/tấn, từ mức 8.455 USD/tấn đóng cửa phiên giao dịch trướ.

Riêng lúa mì tăng bởi một số thương gia cảnh báo lúa mì vụ đông rất nhạy cảm với những biến động thời tiết.

Lúa mì cũng được hỗ trợ tăng giá bởi dự báo Trung Quốc sẽ tăng cường nhập khẩu lúa mì, sau khi đã mua 350.000 tấn lúa mì chăn nuôi của Australia gần đây.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/-(%)

+/-(so với đầu năm)

Dầu thô WTI

USD/thùng

 105,47

-1,80

-1,7%

6,7%

Dầu thô Brent

 USD/thùng

123,09

-1,11

-0,9%

 14,6%

Khí thiên nhiên

 USD/gallon

2,269

 -0,091

-3,9%

-24,1%

Vàng giao ngay

 USD/ounce

1642,50

-7,80

-0,5%

4,8%

Vàng kỳ hạn

USD/ounce

1642,24

-7,71

-0,5%

5,0%

Đồng Mỹ

US cent/lb

 376,55

-8,00

-2,1%

9,6%

Dollar

 

 79,735

0,078

 0,1%

 -0,6%

CRB

 

312,270

 -3,710

-1,2%

2,3%

Ngô Mỹ

 US cent/bushel

644,50

 2,50

 0,4%

 -0,3%

Đậu tương Mỹ

 US cent/bushel

 1349,50

-5,50

-0,4%

 12,6%

Lúa mì Mỹ

US cent/bushel

646,25

10,00

 1,6%

 -1,0%

Cà phê arabica

 US cent/lb

 176,95

-7,75

-4,2%

-22,5%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2285,00

 -74,00

-3,1%

8,3%

Đường thô

US cent/lb

25,91

 0,58

 2,3%

 11,5%

Bạc Mỹ

 USD/ounce

 31,345

 -0,882

-2,7%

 12,3%

Bạch kim Mỹ

USD/ounce

1612,10

 -28,30

-1,7%

 14,7%

Palladium Mỹ

USD/ounce

 651,05

 -37,60

-5,5%

 -0,8%

(T.H – Reuters)