* Nhu cầu hàng hoá giảm sút bởi thông tin từ Trung Quốc
* Sản xuất và dịch vụ châu Âu suy giảm
* CRB giảm mặc dù giá dầu tăng

(VINANET) - Hầu hết hàng hoá trên thị trường thế giới giảm giá vào lúc đóng cửa phiên giao dịch 5/3 (kết thúc vào rạng sáng 6/3 giờ VN), sau khi khách hàng lớn nhất là Trung Quốc giảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Duy có giá dầu tăng bởi khả năng Iran ngừng cung cấp, song đà tăng giá dầu cũng bị hạn chế bởi thông tin từ Trung Quốc.

“Việc Trung Quốc giảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế khiến ai cũng lo ngại khả năng giá hàng hoá sẽ còn giảm mạnh hơn”, nhà chiến lược đầu tư Kate Warne của công ty Edward Jones in St. Louis nhận định.

Tình hình châu Âu vẫn chưa có gì khả quan hơn, và do vậy nhu cầu nguyên liệu có triển vọng sẽ suy giảm.

Hôm 5/3 Trung Quốc đã hạ mục tiêu tăng trưởng kinh tế xuống còn 7,5% trong năm 2012, từ mức 8% dự báo trước đây và so với mức 9,2% của năm 2011. Đây là lần đầu tiên Bắc Kinh hạ mục tiêu tăng trưởng kinh tế của nước này sau nhiều năm tăng trưởng quanh mức 10%/năm. Mục tiêu lạm phát của Trung Quốc năm nay là 4%.

Tại châu Âu, Các số liệu cho thấy lĩnh vực dịch vụ và sản xuất tháng 2 giảm ngoài dự kiến, cho thấy lĩnh vực sản xuất của khu vực đồng euro vẫn suy giảm trong tháng 2. Chỉ số lĩnh vực dịch vụ của Đức giảm xuống 52,8 điểm trong tháng 2 từ mức 53,7 của tháng 1. Ở Italia, chỉ số này giảm đột ngột xuống 44,1, từ mức 44,8 của tháng trước, trong khi ở Pháp chỉ số này cũng giảm từ 52,3 xuống 50,0. Tính chung lĩnh vực dịch vụ giảm tổng cộng xuống 48,8, từ mức 50,4 của tháng trước.

Thêm nữa, chỉ số PMI giảm xuống 49,3 từ mức 50,4, do các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ khu vực này vẫn hết sức nhạy cảm, cho thấy sự hồi phục của khu vực đồng euro chịu sức ép mạnh mẽ từ các kế hoạch cắt giảm chi tiêu và cắt giảm ngân sách của các quốc gia khu vực đồng euro - nỗ lực để giảm khoản nợ công không lồ. Chính điều này đang ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế và hoạt động của nhiều lĩnh vực.

Tại Mỹ, số liệu cho thấy lĩnh vực dịch vụ tháng 2 tăng trưởng mạnh nhất trong vòng 1 năm, nhưng cũng không ngăn được xu hướng giá hàng hoá giảm, nhất là sau khi báo cáo tho thấy số đơn đặt hangf mới ở các nhà máy Mỹ giảm trong tháng 1.

Chỉ số 19 nguyên liệu Thomson Reuters-Jefferies giảm khoảng 0,5% xuống 319,45. Hầu hết các thành tố của chỉ số này đều giảm, trừ dầu mỏ.

Rủo ro về nguồn cung và căng thẳng xoay quanh chương trình hạt nhân của Iran đang hỗ trợ giá dầu, song lo ngại về tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, châu Âu và Mỹ hạn chế đà tăng.

“Các yếu tố rủi ro về địa chính trị đang hậu thuẫn đắc lực cho giá dầu”, nhà phân tích thị trường cấp cao Michael Hewson của CMC cho biết.

Dầu thô Brent kỳ hạn tháng 4 giá tăng 15 US cent lên 123,80 USD/thùng, sau khi giảm xuống chỉ 122,66 USD. Dầu thô Mỹ kỳ hạn tháng 4 giá tăng lên 106,72 USD/thùng, sau khi giao dịch ở mức 107,42 USD.

Khí gas Mỹ giảm 5% bởi thời tiết cuối đông vẫn ấm áp, và nguồn cung cao kỷ lục.

Đồng giảm hơn 1% sua khi Trung Quốc thông báo mục tiêu tăng trưởng thấp nhất 8 năm, gâylo ngại về nhu cầu từ khách hàng lớn nhất thế giới.

Đồng kỳ hạn 3 tháng tại London giá giảm 75 USD xuống 8.505 USD/tấn,

Vàng cũng giảm cùng chiều với thị trường chứng khoán, sau tin xấu từ Trung Quốc. Kim loại quý này có thể sẽ còn giảm hơn nữa nếu không giữ được mức giá hỗ trợ.

Kết thúc phiên, giá vàng giao tháng 4 trên sàn Comex giảm 5,9 USD/ounce xuống 1.703,9 USD/ounce.

Tuần trước giá vàng đã mất 3,5%, mức giảm lớn nhất kể từ giữa tháng 12/2011. Tuy nhiên tính từ đầu năm giá vàng vẫn giữ được mức tăng 9%.

Bạc giảm 2% 33,75 USD/ounce, tuần trước giá bạc đã giảm 2,5%. Bạch kim giảm 2,2% xuống 1,656.24 USD/ounce, trong khi palladium tăng 0,2% lên 701,72 USD/ounce.

Trong số các nông sản, ngô tăng giá nhờ hoạt động mua mang tính kỹ thuật và nguồn cung khan hiếm, trong khi đậu tương và lúa mì giảm giá trước khi chính phủ Mỹ công bố báo cáo mới trong tuần này.

Cao su kỳ hạn tại Tokyo giảm giá cùng chiều với đa số các hàng hoá khác. Hợp đồng giao tháng 8 tại Tokyo giảm 3,5 yen hay 1% xuống 338,4 yen (4,15)/kg.

Cao su kỳ hạn tại Thượng Hải cũng giảm giá, với mức giảm 430 NDT xuống 28.920 NDT (4.600 USD)/tấn.

Tuy nhiên, đà giảm giá cao su sẽ được hạn chế bởi giá dầu cao và nguồn cung cao su giảm.

Nguồn cung từ các nước sản xuất lớn là Thái Lan, Malaysia đã giảm mạnh từ cuối tháng 2 do bước vào mùa khô, và dự kiến cung sẽ tiếp tục khan hiếm tới tháng 4.

Chứng khoán Mỹ giảm phiên thứ hai liên tiếp do sự rớt giá của nhóm cổ phiếu nguyên vật liệu cơ bản sau khi Trung Quốc hạ mục tiêu tăng trưởng 2012. Đây cũng là phiên suy giảm thứ ba trong bốn phiên vừa qua của thị trường.

Vốn rất nhạy với các dấu hiệu từ nền kinh tế Trung Quốc, nhóm cổ phiếu nguyên vật liệu đồng loạt rớt giá và là nhóm cổ phiếu giảm mạnh nhất thị trường. Chỉ số S&P lĩnh vực nguyên vật liệu giảm 1,6%.

S&P 500 mở cửa trong sắc đỏ nhưng đà suy giảm dần chững lại sau khi nhận được thông tin lĩnh vực dịch vụ Mỹ tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất trong một năm vào tháng 2. Có thời điểm trong phiên, chỉ số này rớt xuống dưới đường trung bình 14 ngày, mức từng được chỉ số này giữ vững trong 50 phiên giao dịch trước đó. Từ đầu năm đến nay, S&P 500 tăng 8,5%. Trong khi đó, Nasdaq là chỉ số có mức giảm mạnh nhất trong ba chỉ số chính của chứng khoán Mỹ.

Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số Dow Jones giảm 14,76 điểm (0,11%) xuống 12.962,81 điểm, chỉ số S&P 500 giảm 5,30 điểm (0,39%) xuống 1.364,33 điểm, chỉ số Nasdaq Composite mất 25,71 điểm (0,86%) xuống 2.950,48 điểm.

Khối lượng giao dịch thưa thớt với khoảng 6,08 tỷ cổ phiếu được chuyển nhượng trên ba sàn New York, American và Nasdaq; thấp hơn mức trung bình hàng ngày năm nay là 6,9 tỷ cổ phiếu.

Trên sàn New York, số cổ phiếu giảm điểm vượt số cổ phiếu tăng điểm với tỷ lệ 3/2. Trên sàn Nasdaq, số cổ phiếu giảm điểm vượt số cổ phiếu tăng điểm với tỷ lệ 7/1.

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/-(%)

+/-(so với đầu năm)

Dầu thô WTI

USD/thùng

106,80

0,10

0,1%

8,1%

Dầu thô Brent

 USD/thùng

123,84

0,19

0,2%

15,3%

Khí thiên nhiên

 USD/gallon

2,355

-0,129

-5,2%

-21,2%

Vàng giao ngay

 USD/ounce

1703,90

-5,90

-0,3%

8,8%

Vàng kỳ hạn

USD/ounce

1702,49

-9,28

-0,5%

8,9%

Đồng Mỹ

US cent/lb

385,95

-4,35

-1,1%

12,3%

Dollar

 

79,335

-0,068

-0,1%

-1,1%

CRB

 

319,450

-1,720

-0,5%

4,6%

Ngô Mỹ

 US cent/bushel

659,00

7,50

1,1%

1,9%

Đậu tương Mỹ

 US cent/bushel

1328,25

-4,75

-0,4%

10,8%

Lúa mì Mỹ

US cent/bushel

667,75

-3,00

-0,5%

2,3%

Cà phê Mỹ

 US cent/lb

201,70

-0,10

0,0%

-11,6%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2283,00

-51,00

-2,2%

8,3%

Đường Mỹ

US cent/lb

24,68

-0,28

-1,1%

6,2%

Bạc Mỹ

 USD/ounce

33,695

-0,830

-2,4%

20,7%

Bạch kim Mỹ

USD/ounce

1662,60

-29,10

-1,7%

18,3%

Palladium Mỹ

USD/ounce

706,95

-5,60

-0,8%

7,7%

(T.H – Reuters)