Sản lượng gạo toàn cầu chỉ thay đổi nhẹ so với dự báo tháng 3/2026, do ước tính sản lượng gạo của Ai Cập tăng bù đắp cho sản lượng gạo của Cộng hòa Thống nhất Tanzania giảm do thời tiết bất lợi. Kết quả là, sản lượng gạo thế giới vẫn được dự báo sẽ tăng 2% trong niên vụ 2025/26, đạt mức cao kỷ lục 563,3 triệu tấn. Bangladesh, Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia được dự báo sản lượng sẽ tiếp tục tăng, bù đắp cho sự sụt giảm ở Madagascar, Pakistan, Thái Lan, Cộng hòa Thống nhất Tanzania và Hoa Kỳ.
Dự báo tiêu thụ ngũ cốc toàn cầu năm 2025/26 đạt 2945 triệu tấn, tăng nhẹ so với dự báo tháng 3/2026 và tăng 2,4% so với năm 2024/25. Trong đó, dự báo tiêu thụ lúa mì giảm và tiêu thụ các loại ngũ cốc thô tăng, đặc biệt là ngô. Tại Achentina, nhu cầu xuất khẩu lúa mì tăng mạnh đã dẫn đến việc thay thế lúa mì bằng ngô và hạt bo bo trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi, trong khi tại Mexico, dự báo sản lượng ngô tăng đã dẫn đến việc bổ sung thêm ngô vào thức ăn chăn nuôi. Lượng tiêu thụ gạo toàn cầu dự kiến sẽ đạt đỉnh mới là 555,6 triệu tấn trong năm 2025/26, tăng 2,7% so với năm 2024/25 và về cơ bản không thay đổi so với dự báo hồi tháng 3/2026 do sử dụng gạo làm thực phẩm tăng, mặc dù nguồn cung dồi dào cũng là nền tảng cho sự tăng trưởng trong các mục đích sử dụng gạo phi thực phẩm, bao gồm cả việc sử dụng gạo để sản xuất ethanol ở Ấn Độ.
Dự trữ ngũ cốc toàn cầu vào cuối mùa vụ năm 2026 cũng được dự báo tăng so với dự báo tháng 3/2026 và đạt mức kỷ lục 951,5 triệu tấn, tăng 9,2% so với năm 2025 do dự báo dự trữ lúa mì tại Liên minh châu Âu tăng bởi tốc độ xuất khẩu chậm lại và tại Cộng hòa Hồi giáo Iran tăng do tốc độ nhập khẩu nhanh hơn dự kiến. Dự trữ lúa mì cũng được điều chỉnh tăng tại Uzbekistan do ước tính sản lượng thu hoạch tăng, tại Ấn Độ dự trữ ngô tăng do sản lượng cao hơn dự kiến. Tỷ lệ dự trữ ngũ cốc so với mức tiêu thụ toàn cầu vào cuối mùa vụ năm 2025/26 được dự báo ở mức 32,2%, chứng tỏ tình hình cung ứng nhìn chung khá ổn định. Dự báo lượng dự trữ gạo toàn cầu vào cuối mùa vụ 2025/26 sẽ tăng 4,2% lên mức cao kỷ lục 219,3 triệu tấn, do dự trữ dự kiến tăng ở các nước xuất khẩu (đặc biệt là Ấn Độ, Brazil, Thái Lan và Việt Nam) và ở các nước nhập khẩu gạo (cụ thể là Trung Quốc, Bangladesh và Indonesia).
Dự báo của FAO về thương mại ngũ cốc thế giới trong niên vụ 2025/26 đã tăng 3,6 triệu tấn so với dự báo trong tháng 3/2026, đạt 505,3 triệu tấn. Dữ liệu thương mại gần đây cho thấy Cộng hòa Hồi giáo Iran đã mua một lượng lớn lúa mạch và lúa mì vào đầu mùa vụ 2025/26. Đối với lúa mì, lượng hàng xuất khẩu từ Achentina và Kazakhstan tăng đã bù đắp cho xuất khẩu của Liên minh châu Âu giảm, trong khi lượng mua của Thổ Nhĩ Kỳ cũng ở mức thấp hơn so với dự kiến trước đó. Thương mại ngô thế giới trong niên vụ 2025/26 hầu như không thay đổi so với dự báo trong tháng 3/2026 ở mức 192,9 triệu tấn, khi các nhà xuất khẩu chính là Brazil và Hoa Kỳ tiếp tục bán ra với tốc độ kỷ lục. Dự báo của FAO về thương mại gạo quốc tế trong năm 2026 (tháng 1 - tháng 12) hiện ở mức 60 triệu tấn, giảm 1,6% so với mức cao kỷ lục năm 2025 và giảm nhẹ so với dự báo hồi tháng 3 do những điều chỉnh giảm nhẹ đối với lượng hàng xuất khẩu dự kiến của Campuchia và Thái Lan được bù đắp bởi triển vọng xuất khẩu tốt hơn của Ai Cập.
Triển vọng sản xuất lúa mì toàn cầu năm 2026 vẫn khả quan, mặc dù sự leo thang xung đột ở Trung Đông đang làm tăng chi phí đầu vào và gây ra sự không chắc chắn trong việc trồng trọt.
Phần lớn sản lượng lúa mì toàn cầu năm 2026 sẽ được thu hoạch trong những tháng tới, dự báo của FAO nhìn chung vẫn ổn định so với dự báo tháng 3/2026, ở mức 820 triệu tấn, sản lượng dự kiến sẽ giảm 1,7% trong năm 2026 nhưng vẫn vượt mức trung bình 5 năm. Tuy nhiên, sự leo thang xung đột ở Trung Đông - và áp lực từ giá năng lượng và phân bón tăng cao đối với chi phí sản xuất và sự gián đoạn trong vận chuyển, đã tạo thêm sự không chắc chắn cho triển vọng, đặc biệt là đối với các vụ lúa mì năm 2026 chưa được gieo trồng ở các nước bán cầu nam và các vụ lúa mì xuân ở các nước phía bắc xích đạo. Lợi nhuận thấp, chi phí đầu vào cao, cùng với giá ngô ổn định hoặc giảm, cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định gieo trồng vụ ngô năm 2026 ở các nước bán cầu bắc, khi nông dân cân nhắc chuyển sang các loại cây trồng ít sử dụng phân bón hơn, mặc dù mức độ ảnh hưởng vẫn chưa chắc chắn.
Tại Liên minh châu Âu, dự báo sản lượng lúa mì sẽ giảm nhẹ, đạt khoảng 137 triệu tấn, bởi diện tích gieo trồng vụ đông giảm do giá cả giảm và dự kiến năng suất sẽ trở lại mức trung bình so với mức cao của năm ngoái. Tuy nhiên, điều kiện thời tiết nhìn chung thuận lợi tiếp tục hỗ trợ năng suất trồng lúa mì ổn định. Tương tự, điều kiện mùa màng thuận lợi cũng diễn ra tại Vương quốc Anh và Bắc Ireland, nơi sản lượng lúa mì được dự báo vượt quá 13 triệu tấn, cao hơn so với năm ngoái, do diện tích gieo trồng tăng và dự kiến năng suất sẽ được cải thiện. Dự báo, sản lượng lúa mì tại Liên bang Nga vẫn không thay đổi, dự kiến diện tích gieo trồng giảm sẽ dẫn đến năng suất giảm trong điều kiện thời tiết nhìn chung thuận lợi. Tại Ukraine, bất chấp đợt rét đậm vào tháng 2/2026 làm dấy lên lo ngại về thiệt hại do rét gây ra cho cây lúa mì, tổng sản lượng lúa mì được dự báo ở mức 23 triệu tấn, nhìn chung ổn định so với năm ngoái nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với trước khi xung đột. Tại Hoa Kỳ, việc giảm diện tích gieo trồng do giá cả và dự kiến năng suất sẽ giảm nhẹ so với mức cao của năm trước — với tỷ lệ lúa mì bị ảnh hưởng bởi hạn hán cao hơn so với năm 2025 — đang củng cố kỳ vọng sản lượng sẽ giảm xuống khoảng 51 triệu tấn, mặc dù vẫn cao hơn mức trung bình 5 năm.
Tại Canada, diện tích gieo trồng lúa mì, chủ yếu là vụ xuân, dự kiến sẽ tương đương với năm ngoái và giả sử năng suất trở lại gần mức trung bình, sản lượng dự báo sẽ giảm nhẹ xuống khoảng 35 triệu tấn. Tại Ấn Độ, sản lượng lúa mì có thể đạt kỷ lục 120 triệu tấn, bởi diện tích gieo trồng cao kỷ lục, trong khi điều kiện thời tiết thuận lợi và nguồn cung cấp nước tưới dồi dào đang tạo nền tảng cho triển vọng năng suất tốt, xua tan những lo ngại trước đó về nhiệt độ cao ở một số vùng tại Ấn Độ. Dự báo sản lượng lúa mì của Pakistan và Trung Quốc vẫn được giữ nguyên như dự báo trong tháng 3/2026, dự kiến sẽ tăng nhẹ so với mức trung bình 5 năm. Tại khu vực Trung Đông, sau lượng mưa được cải thiện trong mùa đông ở Cộng hòa Hồi giáo Iran, điều kiện mùa màng nhìn chung thuận lợi mặc dù có một số vùng khô hạn cục bộ; tuy nhiên, nếu xung đột kéo dài, có thể gây rủi ro cho các hoạt động thu hoạch dự kiến bắt đầu vào tháng 5/2026. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, lượng mưa mùa đông dồi dào đã làm tăng độ ẩm của đất và hỗ trợ sự phát triển ban đầu của lúa mì, trong khi lớp tuyết phủ ở các khu vực trung tâm và phía đông đã bảo vệ lúa mì khỏi sương giá, tạo nền tảng cho triển vọng năng suất và sản lượng thuận lợi. Tại Bắc Phi, sau hai năm liên tiếp khu vực này thiếu hụt lượng mưa, việc lượng mưa trở lại nhiều hơn đang thúc đẩy triển vọng năng suất lúa mì và do đó, sản lượng dự kiến sẽ tăng vào năm 2026.
Về vụ ngô năm 2026, việc thu hoạch đã bắt đầu ở các nước phía nam xích đạo, trong khi việc gieo trồng sẽ sớm bắt đầu ở các nước phía bắc bán cầu. Tại Brazil, sản lượng ngô dự kiến sẽ duy trì ở mức trên trung bình trong năm 2026, bởi điều kiện thời tiết nhìn chung thuận lợi ở các khu vực sản xuất chính và diện tích gieo trồng tăng nhẹ do nhu cầu xuất khẩu mạnh mẽ; tuy nhiên, sản lượng có thể thấp hơn mức kỷ lục đạt được trong năm trước. Tại Achentina, diện tích gieo trồng ngô trên mức trung bình, cùng với kỳ vọng về lượng mưa gần mức bình thường trong nửa cuối mùa vụ sau thời kỳ khô hạn trước đó, dự kiến sẽ hỗ trợ một vụ thu hoạch trên mức trung bình trong năm 2026. Điều kiện thời tiết ở Nam Phi tiếp tục thuận lợi, hỗ trợ năng suất tốt và kết hợp với diện tích gieo trồng lớn, sản lượng ngô năm 2026 dự kiến sẽ vượt mức trung bình 5 năm nhưng giảm nhẹ so với năm trước.

Nguồn: Vinanet/VITIC/FAO