(VINANET) - Theo số liệu thống kê từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ của Việt Nam trong nửa đầu năm 2011 tăng 11,32% so với cùng kỳ năm trước, đạt 168,5 triệu USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong tháng tăng 18,07% so với tháng 5 và tăng 39,35% so với tháng 6/2010 đạt 30,2 triệu USD.

Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đài Loan là những thị trường chính xuất khẩu hàng gốm sứ của Việt Nam trong hai quý đầu năm nay. Trong đó, đạt kim ngạch cao nhất là Nhật Bản với 3,9 triệu USD trong tháng, tăng 13,29% so với tháng 5 và tăng 57,85% so với tháng 6/2010, nâng kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ sang Nhật Bản 6 tháng đầu năm lên 23 triệu USD, tăng 32,62% so với cùng kỳ năm 2010.

Đứng thứ hai là thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch 2,5 triệu USD trong tháng 6, tăng 15,38% so với tháng liền kề trước đó và tăng 38,17% so với tháng 6/2010, nâng kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ sang thị trường Hoa Kỳ 6 tháng đầu năm 2011 lên 19,4 triệu USD, tăng 19,96% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 6 tháng đầu năm 2011, số thị trường có kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng chiếm 52% trong tổng số thị trường nhập khẩu hàng gốm sứ của Việt Nam.

Tuy đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng về kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này, nhưng thị trường Thái Lan lại tăng trưởng mạnh nhất (tăng 99,57%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 11,2 triệu USD.

Trong  nhóm hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ luôn đứng đầu. Thách thức hiện nay đối với những doanh nghiệp làm hàng gốm sứ xuất khẩu ngoài sự biến động của giá nhiên liệu thường xuyên tăng cao thì sự cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh ngày càng trở nên quyết liệt .

Mặc dù chỉ đứng sau Trung Quốc trong top 5 quốc gia xuất khẩu gốm sứ hàng đầu trên thế giới, nhưng nếu so sánh tổng giá trị xuất khẩu thì Việt Nam kém hơn 3,5 lần.

Theo trưởng đại diện Hiệp hội Làng nghề tại Tp.HCM nhận định thì gốm sứ Việt Nam đang cạnh tranh đối đầu trực tiếp với Trung Quốc, Mexico, Thái Lan, Ấn Độ, cuộc cạnh tranh này không chỉ ở sản phẩm gốm thủ công mà còn từ các nhà máy sản xuất hàng loạt sản phẩm mô phỏng. Thế mạnh cạnh tranh của Trung Quốc là giá rẻ, với giá rẻ, gốm sứ Trung Quốc đã chi phối các kênh phân phối tại các nước phát triển. Một điển hình là gốm sứ dành cho các khách sạn ở Mỹ trước đây được xem là “lãnh địa” của các hãng gốm sứ EU nhưng chỉ trong 10 năm trở lại đây, các sản phẩm chi phí thấp của Trung Quốc đã đè bẹp và thống trị thị trường này, góp phần làm phá sản ngành gốm sứ mỹ nghệ ở nhiều quốc gia không chỉ ở EU mà cả ở Mỹ.

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì ưu thế của Việt Nam là có các làng gốm sứ nổi tiếng, sản phẩm khác biệt và kỹ thuật chế tác tinh xảo mà máy móc không thể thay thế được. Vì vậy, phát triển ngành gốm sứ bằng giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sự khác biệt về tính quý hiếm, mang bản sắc văn hoá bản địa và làm hài lòng khách hàng là nguyên tắc sống còn hiện nay của gốm sứ, nhất là gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam.

Thị trường xuất khẩu sản phẩm gốm sứ nửa đầu năm 2011

ĐVT: USD

 

Thị trường

 

KNXK T6

 

KNXK 6T/2011

 

KNXK 6T/2010

% tăng giảm KN so T5/2011

% tăng giảm KN so T6/2010

% tăng giảm KN so cùng kỳ

Trị giá

30.212.613

168.521.867

151.384.711

18,07

39,35

11,32

Nhật Bản

3.904.590

23.023.873

17.360.259

13,29

57,85

32,62

Hoa Kỳ

2.514.846

19.494.072

16.249.912

15,38

38,17

19,96

Đài Loan

3.374.450

17.747.486

16.656.322

14,60

10,43

6,55

Đức

1.513.195

12.465.334

14.319.135

49,30

13,17

-12,95

Thái Lan

2.633.186

11.268.025

5.646.118

-2,65

110,17

99,57

Campuchia

2.382.579

10.184.295

6.537.181

56,77

95,66

55,79

Oxtrâylia

1.736.051

8.273.338

6.059.937

25,52

88,66

36,53

Pháp

2.521.968

6.251.743

5.342.614

136,40

185,08

17,02

Anh

265.210

5.604.630

6.510.730

-53,08

-28,18

-13,92

Hàn Quốc

1.011.645

5.522.360

5.622.356

-15,30

-2,54

-1,78

Malaixia

938.168

4.291.833

3.187.240

15,86

110,76

34,66

Đan Mạch

165.729

2.684.286

2.471.921

205,13

-1,26

8,59

Hà Lan

503.828

2.550.861

3.921.799

51,02

82,57

-34,96

Canada

152.767

2.437.896

2.312.577

-28,26

-26,59

5,42

Italia

352.946

1.523.824

1.594.698

40,00

49,14

-4,44

Thuỵ Sỹ

71.193

1.501.067

1.702.948

160,23

91,48

-11,85

Bỉ

70.707

1.358.970

1.689.302

-65,77

-53,78

-19,55

Tây Ban Nha

147.965

1.223.720

1.794.866

-9,21

29,13

-31,82

Nga

113.737

1.048.812

938.157

-60,56

-45,98

11,79

Thuỵ Điển

160.303

952.937

1.228.943

57,97

18,56

-22,46

Trung Quốc

175.407

688.209

700.490

79,13

27,28

-1,75

 (Ng.Hương)

Nguồn: Vinanet