Trong đó, xuất khẩu máy móc thiết bị của khối DN FDI trong tháng 4/2026 đạt 5,7 tỷ USD, tăng 5,02% so với tháng trước và tăng 49,83% so với tháng 4/2025. Tổng kim ngạch xuất khẩu máy móc thiết bị của khối DN này trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt 19,88 tỷ USD, tăng 41,33% so với cùng kỳ năm 2025; chiếm tỷ trọng 94,99% tổng nhập khẩu máy móc thiết bị của cả nước (mở rộng so với mức 82,32% của 4 tháng đầu năm 2025). Nhiều dự án FDI trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đã đi vào hoạt động ổn định và mở rộng quy mô sản xuất từ đầu năm 2026, tạo ra nguồn cung xuất khẩu dồi dào. Các doanh nghiệp FDI lớn tại Việt Nam tăng cường xuất khẩu máy móc, thiết bị sang các chi nhánh khác trong cùng hệ thống tại khu vực Đông Nam Á (như Thái Lan, Indonesia) để phục vụ lắp ráp thành phẩm.
Sau kỳ nghỉ Tết và giai đoạn đầu quý I điều chỉnh kế hoạch, tháng 4 thường là thời điểm các doanh nghiệp đẩy mạnh giao hàng để kịp tiến độ quý II. Mặc dù chi phí vận tải biển có biến động do tình hình địa chính trị tại Trung Đông, các doanh nghiệp đã chủ động hơn trong việc tìm kiếm các phương thức vận tải thay thế hoặc đàm phán lại hợp đồng để đảm bảo luồng hàng hóa không bị đứt gãy.
Hoa Kỳ tiếp tục duy trì vị thế là thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 với kim ngạch 8,68 tỷ USD, tăng 21,17% so với cùng kỳ năm 2025; chiếm tỷ trọng 41,49% tổng kim ngạch xuất khẩu máy móc thiết bị của cả nước (thu hẹp so với mức 41,94% của cùng kỳ năm 2025). Riêng trong tháng 4/2026, xuất khẩu máy móc thiết bị sang Hoa Kỳ đạt gần 2,55 tỷ USD, tăng 10,29% so với tháng trước và tăng 33,34% so với tháng 4/2025. Nền kinh tế Hoa Kỳ trong quý II/2026 ghi nhận sự hồi phục mạnh mẽ trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xây dựng. Điều này thúc đẩy nhu cầu nhập khẩu các loại máy móc cơ khí, thiết bị cầm tay và linh kiện phụ tùng từ các đối tác tin cậy, trong đó có Việt Nam.
Thị trường xuất khẩu máy móc thiết bị lớn thứ hai là EU với kim ngạch 4 tháng đạt gần 2,27 tỷ USD, tăng nhẹ 0,24% so với 4 tháng đầu năm 2025; chiếm tỷ trọng 10,83% (thu hẹp so với mức 13,23% của cùng kỳ năm 2025). Trong đó, Hà Lan và Đức là hai thị trường tiêu thụ lớn nhất đạt kim ngạch trên 400 triệu USD. Khác với sự tăng trưởng tại thị trường Hoa Kỳ (nơi tập trung vào sự dịch chuyển chuỗi cung ứng và đầu tư công nghiệp), thị trường EU trong tháng 4/2026 đặt áp lực về tiêu chuẩn môi trường (các quy định xanh CBAM và DPP) và chi phí vận tải tăng cao do bất ổn kéo dài tại khu vực Trung Đông, dẫn đến sự suy giảm nhu cầu tạm thời từ các thị trường EU.
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba với kim ngạch đạt trên 2 tỷ USD, tăng 66,17% so với 4 tháng đầu năm 2025; chiếm tỷ trọng 9,56% (mở rộng so với mức tỷ trọng 7,05% của cùng kỳ năm 2025). Máy móc từ Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về chi phí logistics khi xuất sang Trung Quốc. Nhiều tập đoàn đa quốc gia đã hoàn tất việc đặt nhà máy tại Việt Nam để phục vụ thị trường Trung Quốc và khu vực. Khi các nhà máy này đi vào vận hành ổn định trong năm 2026, dòng chảy linh kiện và máy móc (đặc biệt là máy móc chuyên dụng cho lắp ráp điện tử) xuất ngược trở lại thị trường Trung Quốc tăng cao. Cơ cấu thương mại giữa hai nước đã chuyển dịch từ trao đổi hàng hóa đơn thuần sang hợp tác trong chuỗi sản xuất. Việt Nam xuất khẩu các linh kiện máy móc, phụ tùng đã qua gia công hoặc lắp ráp bán thành phẩm để Trung Quốc hoàn thiện sản phẩm cuối cùng.
Xuất khẩu máy móc thiết bị của Việt Nam sang thị trường Hồng Kông trong 4 tháng đầu năm nay đạt gần 1,64 tỷ USD, tăng 69,95% so với cùng kỳ năm 2025; chiếm tỷ trọng 7,83% (mở rộng so với mức 5,64% của 4 tháng đầu năm 2025). Việc Việt Nam tăng cường nhập khẩu máy móc đầu vào từ Trung Quốc cũng tạo ra dòng chảy xuất khẩu linh kiện và phụ tùng ngược lại qua Hồng Kông để tối ưu hóa chuỗi giá trị.
Tiếp đến là các thị trường: ASEAN chiếm 6,25%; Hàn Quốc chiếm 4,84%; Nhật Bản chiếm 4,7%; Đài Loan chiếm 2,11%; Ấn Độ chiếm 2,01%...
Đáng chú ý, nhập khẩu từ một số thị trường tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025 như: Hồng Kông tăng 75,54%; Canada tăng 106,78%; Australia tăng 89,97%; Myanmar tăng 157,11%; Mozambique tăng 526,76%; CH Tanzania tăng 138,35%.
Thị trường xuất khẩu máy móc, thiết bị của Việt Nam trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026

Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan

 

Nguồn: Vinanet/VITIC