Trên thị trường năng lượng, giá dầu thế giới tăng mạnh nhất từ đầu năm đến nay sau khi Mỹ thông báo sẽ hoãn việc áp thuế 10% đối với một số sản phẩm Trung Quốc.
Thông báo trên của Mỹ làm nhiều nhà đầu tư giảm bớt lo ngại về căng thẳng thương mại toàn cầu ảnh hưởng tới thị trường trong những tháng gần đây. Các sản phẩm Trung Quốc được Mỹ lùi thời hạn áp thuế tới 15/12 thay vì 1/9 tới gồm có máy tính xách tay và điện thoại di động.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu Brent Biển Bắc giao kỳ hạn tăng 2,73 USD (hay 4,7%) lên 61,30 USD/thùng. Đây là mức tăng theo ngày lớn nhất của dầu Brent giao kỳ hạn từ tháng 12/2018 đến nay. Giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 2,17 USD (hay 4%) lên 57,10 USD/thùng.
Ngoài việc căng thẳng thương mại Mỹ-Trung có dấu hiệu hạ nhiệt, nhiều chuyên gia cho rằng giá dầu mỏ tăng lên do kỳ vọng dự trữ dầu thô Mỹ giảm trong tuần qua và khả năng Saudi Arabia sẽ duy trì việc cắt giảm khai thác dầu mỏ.
Saudi Arabia, nước xuất khẩu dầu mỏ hàng đầu thuộc Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), thông báo kế hoạch duy trì mức dầu thô xuất khẩu dưới 7 triệu thùng/ngày trong tháng Tám và tháng Chín năm nay nhằm giúp giảm lượng dầu dự trữ trên toàn cầu. OPEC cùng với các nước đồng minh, còn được gọi OPEC+, đã đồng ý cắt giảm sản lượng dầu 1,2 triệu thùng/ngày kể từ ngày 1/1/2019. Tuy nhiên, việc bùng nổ khai thác dầu thô đá phiến ở Mỹ đã cản trở nỗ lực hạn chế nguồn cung năng lượng toàn cầu, qua đó gây áp lực giảm giá lên thị trường dầu mỏ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm 2% từ mức cao nhất 6 năm trong phiên trước đó sau khi Mỹ thông báo hoãn áp thuế với nhiều sản phẩm Trung Quốc và hai bên đồng ý tiếp tục các cuộc đàm phán thương mại song phương.
Cuối phiên giao dịch, giá vàng giao ngay giảm 0,7% xuống 1.501,22 USD/ounce, duy trì gần mức cao nhất kể từ tháng 4/2013 là 1.514,1 USD/ounce; vàng giao sau cũng giảm 0,2% ở mức 1.514,1 USD/ounce.
Thị trường chứng khoán Mỹ khởi sắc và đồng USD mạnh lên trước thông tin căng thẳng thương mại Mỹ-Trung có dấu hiệu hạ nhiệt.
Trong số các kim loại quý khác, bạc giảm 0,6% xuống 16,96 USD/ounce, trong khi bạch kim tăng 0,2% lên 853,81 USD. Palađi tăng 1,9% lên 1.454.03 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng cao sau khi Mỹ cho biết trì hoãn kế hoạch áp thuế 10%, điều này giúp giảm bớt lo lắng về tăng trưởng kinh tế và nhu cầu tiêu thụ kim loại của Trung Quốc.
Giá đồng kỳ hạn 3 tháng trên Sàn giao dịch kim loại London ( LME) chốt phiên tăng 1,5% đạt mức 5.828,5 USD/tấn. Giá kim loại này đã giảm xuống còn 5.640 USD vào tuần trước, mức thấp nhất kể từ tháng 6/2017.
Giá kẽm cũng tăng 1,8% lên 2.319 USD/tấn. Tuần trước, giá kim loại được sử dụng để mạ thép này đã chạm mốc 2.230,50 USD, mức thấp nhất kể từ tháng 10/2016.
Giá nickel tăng 1,4% lên 15.925 USD. Giá nhôm tăng thêm 0,8% đạt 1.785 USD/tấn, chì tăng 0,1% lên 2.068 USD/tấn và thiếc tăng 1,6% lên 17.100 USD/tấn.
Giá thép tại Trung Quốc tăng 2,9% do một số nhà máy thép bắt đầu hạn chế sản xuất khi giá giảm gần đây và nhu cầu giảm. Thép cây kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn Thượng Hải, tăng 2,14% đạt trên 3.677 CNY(520,43 USD)/tấn; thép cán nóng tăng 0,9% lên 3.660 CNY/tấn.
Giá quặng sắt giao tháng 1/2020 trên sàn Đại Liên chốt phiên cũng tăng 2,5 CNY(khoảng 36 Uscent), đạt 627,5 CNY/tấn. Ngược lại, giá quặng sắt 62% nhập vào Trung Quốc đã giảm 3,2% xuống 90,5 USD/tấn, mức thấp nhất trong hơn 4 tháng qua, theo SteelHome. Dự trữ quặng sắt tại Trung Quốc đứng ở mức 122,5 triệu tấn tính đến ngày 11/8, sau khi tăng gần một tháng qua, theo SteelHome.
Đối với mặt hàng cobalt, ngân hàng đầu tư UBS dự kiến giá sẽ tăng 60% trong 18 tháng tới trở lại mức 20 USD/lb do nhà sản xuất Cobalt hàng đầu thế giới Glencore đóng cửa mỏ Mutanda ở Congo sẽ làm giảm dư thừa nguồn cung trên thị trường trong giai đoạn 2019-2023.
Giá cobalt đã đạt đỉnh trên 43 USD/lb vào tháng 3/2018 sau đó giảm 72% xuống còn 11,80 USD/lb vào cuối tháng 7/2019. Kể từ thông báo của Glencore, giá đã phục hồi lên 14,30 USD.
Trên thị trường nông sản, giá đường và cà phê cùng tăng. Cà phê arabica giao tháng 9 đã tăng 1,4 cent, tương đương 1,5% lên mức 95,15 cent/lb, sau khi giảm gần 4% xuống mức thấp nhất 11 tuần vào phiên liền trước. Cà phê robusta giao tháng 9/2019 đã tăng 17 USD, tương đương 1,3%, đạt 1.287 USD/tấn.
Đồng thời, giá đường thô giao tháng 10/2019 đã tăng 0,16 cent, tương đương 1,4% đạt 11,72 cent/lb. Giá đường trắng cùng kỳ hạn cũng tăng 2,70 USD, tương đương 0,9%, lên mức 316,70 USD/tấn.
Giá ca cao kỳ hạn tại New York đã giảm xuống mức thấp 4-1/2 tháng nhờ thời tiết thuận lợi ở Tây Phi có thể cải thiện triển vọng cây trồng. Cụ thể giá ca cao New York giao tháng 12/2019 đã giảm 27 USD, tương đương 1,2% xuống còn 2.218 USD/tấn sau khi chạm mức thấp 4-1/2 tháng là 2.217 USD. Giá ca cao London giao tháng 12/2018 đã giảm 19 lb, tương đương 1,1%, xuống còn 1.753 lb/tấn. Khối lượng xuất khẩu ca cao tại Bờ Biển Ngà đạt 2.138 triệu tấn trong thời gian từ 1/10/2018 đến 4/8/2019, tăng so với mức 1.972 triệu tấn trong cùng kỳ năm ngoái.
Giá cao su trên sàn giao dịch Tokyo và sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm do lượng dự trữ dồi dào, nguồn cung lớn. Tại Tokyo, giá cao su giao hàng tháng 1/2020 giảm 0,5% còn 165,7 JPY(1,57 USD)/kg. Giá TSR 20 giao tháng 2/2020 giảm 0,1% xuống còn 142,9 JPY/ kg.
Tại Thượng Hải, giá cao su giao tháng 9/2019 giảm 1,4% xuống còn 11.425 CNY(1.617,08 USD)/tấn. Giá cao su TSR 20 giảm 0,1% xuống còn 9.865 CNY/tấn.Tại Singapore, giá cao su giao tháng 9/2019 giảm 0,3% xuống còn 130,8 Uscent/kg.
Giá hàng hóa thế giới
|
ĐVT
|
Giá
|
+/-
|
+/- (%)
|
Dầu thô WTI
|
USD/thùng
|
57,10
|
+2,17
|
+4%
|
Dầu Brent
|
USD/thùng
|
61,30
|
+2,73
|
+4,7%
|
Dầu thô TOCOM
|
JPY/kl
|
37.310,00
|
+1.690,00
|
+4,74%
|
Khí thiên nhiên
|
USD/mBtu
|
2,16
|
+0,01
|
+0,65%
|
Xăng RBOB FUT
|
US cent/gallon
|
172,30
|
-1,34
|
-0,77%
|
Dầu đốt
|
US cent/gallon
|
186,83
|
-0,90
|
-0,48%
|
Dầu khí
|
USD/tấn
|
577,25
|
+1,25
|
+0,22%
|
Dầu lửa TOCOM
|
JPY/kl
|
55.340,00
|
+1.640,00
|
+3,05%
|
Vàng New York
|
USD/ounce
|
1.506,80
|
-7,30
|
-0,48%
|
Vàng TOCOM
|
JPY/g
|
5.098,00
|
-39,00
|
-0,76%
|
Bạc New York
|
USD/ounce
|
16,89
|
-0,09
|
-0,56%
|
Bạc TOCOM
|
JPY/g
|
58,10
|
-0,50
|
-0,85%
|
Bạch kim
|
USD/ounce
|
850,30
|
-5,25
|
-0,61%
|
Palađi
|
USD/ounce
|
1.449,30
|
-6,86
|
-0,47%
|
Đồng New York
|
US cent/lb
|
262,35
|
-0,65
|
-0,25%
|
Đồng LME
|
USD/tấn
|
5.828,50
|
+86,50
|
+1,51%
|
Nhôm LME
|
USD/tấn
|
1.785,00
|
+15,00
|
+0,85%
|
Kẽm LME
|
USD/tấn
|
2.319,00
|
+41,00
|
+1,80%
|
Thiếc LME
|
USD/tấn
|
17.100,00
|
+275,00
|
+1,63%
|
Ngô
|
US cent/bushel
|
379,75
|
+3,25
|
+0,86%
|
Lúa mì CBOT
|
US cent/bushel
|
481,75
|
+6,00
|
+1,26%
|
Lúa mạch
|
US cent/bushel
|
265,75
|
-0,25
|
-0,09%
|
Gạo thô
|
USD/cwt
|
11,60
|
+0,14
|
+1,22%
|
Đậu tương
|
US cent/bushel
|
891,25
|
+2,25
|
+0,25%
|
Khô đậu tương
|
USD/tấn
|
305,60
|
+1,00
|
+0,33%
|
Dầu đậu tương
|
US cent/lb
|
29,64
|
+0,10
|
+0,34%
|
Hạt cải WCE
|
CAD/tấn
|
449,30
|
+0,40
|
+0,09%
|
Cacao Mỹ
|
USD/tấn
|
2.206,00
|
-39,00
|
-1,74%
|
Cà phê Mỹ
|
US cent/lb
|
99,70
|
+2,40
|
+2,47%
|
Đường thô
|
US cent/lb
|
11,72
|
+0,16
|
+1,38%
|
Nước cam cô đặc đông lạnh
|
US cent/lb
|
98,80
|
-0,05
|
-0,05%
|
Bông
|
US cent/lb
|
59,28
|
-0,13
|
-0,22%
|
Lông cừu (SFE)
|
US cent/kg
|
--
|
--
|
--
|
Gỗ xẻ
|
USD/1000 board feet
|
354,20
|
+11,40
|
+3,33%
|
Cao su TOCOM
|
JPY/kg
|
168,30
|
+1,70
|
+1,02%
|
Ethanol CME
|
USD/gallon
|
1,26
|
-0,03
|
-2,02%
|
Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters