Eo biển Hormuz gần như tê liệt
Dù nhiều vòng đàm phán ngừng bắn đã diễn ra, hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz vẫn diễn ra khá nhỏ giọt so với trước khủng hoảng.
Trước thời điểm Mỹ và Israel tấn công Iran cuối tháng 2/2026, trung bình khoảng 70 tàu chở dầu thô, nhiên liệu, LNG và các sản phẩm năng lượng đi qua Hormuz mỗi ngày.
Lượng hàng hóa này tương đương khoảng 20% nguồn cung năng lượng toàn cầu, đặc biệt quan trọng với các nước châu Á vốn phụ thuộc lớn vào dầu và nhiên liệu Trung Đông.
Tuy nhiên kể từ ngày 1/3/2026, lượng tàu qua Hormuz giảm xuống dưới 7 chuyến/ngày và trong tháng 5/2026 chỉ còn dưới 6 chuyến/ngày, bất chấp nỗ lực khôi phục hoạt động vận tải trong khu vực.
Xuất khẩu dầu thô và nhiên liệu trượt giảm mạnh
Việc tàu thuyền gần như không thể đi qua Hormuz khiến xuất khẩu dầu thô, nhiên liệu thành phẩm và LNG từ Trung Đông giảm xuống mức thấp kỷ lục.
Dữ liệu từ Kpler cho thấy xuất khẩu dầu thô bình quân tháng của Trung Đông giảm từ mức 75 triệu tấn trước khủng hoảng xuống còn khoảng 36 triệu tấn kể từ tháng 3/2026.
Tổng lượng dầu thô xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 260 triệu tấn, giảm mạnh so với mức 360 triệu tấn cùng kỳ năm 2025.
Để bù đắp lượng thiếu hụt cung ứng lên đến 100 triệu tấn này, nhiều quốc gia bên ngoài Trung Đông đã tăng mạnh xuất khẩu dầu. Mỹ – nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới – nâng khối lượng xuất khẩu lên mức cao kỷ lục. Tổng lượng dầu xuất khẩu của Mỹ trong 5 tháng đầu năm 2026 tăng 16%, lên hơn 86 triệu tấn.
Canada, Brazil và Mexico cũng đẩy mạnh xuất khẩu, giúp tổng lượng dầu xuất khẩu từ châu Mỹ tăng thêm khoảng 28 triệu tấn so với cùng kỳ năm trước lên 236 triệu tấn.
Tuy nhiên, phần tăng thêm này vẫn chưa đủ bù đắp thiếu hụt từ Trung Đông do sản lượng khai thác từ châu Phi khá hạn chế, trong khi dầu Nga tiếp tục đối diện với rào cản từ lệnh trừng phạt và hạn chế thương mại.
Tổng lượng dầu thô xuất khẩu toàn cầu trong 5 tháng đầu năm 2026 giảm khoảng 71 triệu tấn, tương đương 8%, so với cùng kỳ năm trước xuống còn 800 triệu tấn.
Không chỉ dầu thô, vận chuyển các sản phẩm nhiên liệu như xăng, diesel, nhiên liệu phản lực và naphtha cũng suy giảm đáng kể.
Tổng lượng nhiên liệu thành phẩm xuất khẩu toàn cầu trong 5 tháng đầu năm 2026 giảm 8,7%, tương đương khoảng 31 triệu tấn, xuống còn dưới 330 triệu tấn.
Châu Mỹ tiếp tục là khu vực tăng trưởng mạnh nhất về xuất khẩu nhiên liệu với mức tăng khoảng 19%, lên gần 70 triệu tấn.
Tuy nhiên, nhiều khu vực khác không thể hoặc không muốn tăng xuất khẩu trong bối cảnh nguồn cung Trung Đông suy giảm quá mạnh, khiến thị trường năng lượng toàn cầu tiếp tục căng thẳng.
Giá cước vận tải tăng vọt
Chi phí vận tải dầu, nhiên liệu và LNG cũng đã tăng mạnh kể từ khi xung đột Trung Đông bùng phát, phản ánh áp lực ngày càng lớn đối với thị trường năng lượng toàn cầu.
Cước thuê tàu chở dầu tuyến Trung Đông – Trung Quốc tăng từ mức 130.000 USD/ngày trước khủng hoảng lên hơn 500.000 USD/ngày vào giai đoạn giao tranh leo thang mạnh nhất.
Hiện mức cước này giảm về quanh 390.000 USD/ngày nhờ nguồn cung từ khu vực khác tăng lên và nhu cầu tiêu thụ suy yếu do giá cao, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với trước chiến sự.
Chi phí vận chuyển nhiên liệu trên nhiều tuyến quốc tế cũng tăng gấp đôi kể từ đầu năm.
Một phần đội tàu toàn cầu được điều chuyển khỏi Trung Đông sang Mỹ và những khu vực còn duy trì năng lực xuất khẩu ổn định nhằm tránh ùn tắc và rủi ro an ninh.
Áp lực mới với kinh tế toàn cầu
Chi phí vận tải năng lượng neo cao đang làm gia tăng lo ngại thiếu hụt nguồn cung và gây thêm áp lực lạm phát cho nhiều nền kinh tế.
Rủi ro này có thể tiếp tục tăng nếu các bên trong cuộc xung đột chưa đạt được một thỏa thuận hòa bình bền vững trong thời gian tới.
Trong bối cảnh lượng tồn kho dầu, nhiên liệu và khí đốt toàn cầu dần suy giảm, nhiều nước sẽ phải bổ sung dự trữ với mức giá hàng hóa và chi phí vận tải đều cao hơn đáng kể so với trước xung đột.

Nguồn: Vinanet/VITIC (Theo Reuters)