I. THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
1. Diễn biến giá dầu thế giới tháng 11 năm 2013
Cả hai loại dầu WTI và Brent đều có xu hướng giảm trong tháng 11/2013, với dầu WTI kỳ hạn giảm mạnh khoảng 7,4%, dầu Brent chỉ giảm 2,7% so với tháng trước. Chốt phiên gần đây nhất ngày 20/11 dầu WTI ở mức 93,33 USD/thùng còn dầu Brent là 108,06 USD/thùng, mức chênh lệch giữa dầu WTI và dầu Brent có xu hướng nới rộng.
Bảng 1: Đồ thị giá dầu WTI và Brent tháng 11/2013

Giá dầu trên thế giới giảm trong tháng qua do một số nguyên nhân sau:
- Nền kinh tế Hoa Kỳ có những bước phục hồi vững chắc và nâng cao triển vọng Cục dự trữ liên bang có thể sớm quyết định cắt giảm chương trình mua trái phiếu.
- Ngân hàng trung ương châu Âu cắt giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục cho thấy sự khôi phục kinh tế ở khu vực này vẫn yếu.
- Sản lượng dầu thô của OPEC vẫn cao hơn nhu cầu dầu thô toàn cầu trong năm nay ngay cả sau khi Ả Rập Xê Út giảm sản lượng từ mức cao kỷ lục.
Giá xăng RON 92 trên thị trường Singapore có xu hướng giảm từ đầu tháng xuống mức thấp nhất 107,88 USD/thùng vào hôm 8/11 sau đó lại đổi chiều tăng từ đó, chốt phiên 19/11 ở mức 112,74 USD/thùng.
2. Nguồn cung trên thế giới
Số liệu sơ bộ chỉ ra nguồn cung dầu toàn cầu đã tăng 0,48 triệu thùng/ngày trong tháng 10 lên mức trung bình 90,37 triệu thùng/ngày. Nguồn cung của các nước không thuộc OPEC tăng 0,47 triệu thùng trong khi sản lượng dầu thô của OPEC gần như không đổi. Thị phần của dầu thô OPEC trong sản lượng toàn cầu sụt giảm nhẹ xuống 33,1%.
Sản lượng dầu thô của OPEC
Sản lượng dầu thô của OPEC ổn định trong tháng 10. Tổng sản lượng dầu thô của OPEC đạt trung bình 29,89 triệu thùng/ngày trong tháng 10, tăng nhẹ 3 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Sản lượng dầu thô từ Iraq và Libya tăng, trong khi sản lượng giảm từ Ả Rập Xê Út.
Sản lượng dầu thô của các khu vực không thuộc OPEC
Theo số liệu sơ bộ và ước tính, tổng nguồn cung của khu vực không thuộc OPEC trong quý 3 năm 2013 tăng 1,97 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước. Trong ba quý đầu năm nay, nguồn cung của các nước không thuộc OPEC tăng 1,27 so với cùng kỳ năm trước.
Nguồn cung của OECD đạt trung bình 22,26 triệu thùng/ngày trong quý 3 năm nay, tăng 0,57 triệu thùng/ngày so với quý trước và tăng 1,66 triệu thùng/ngày so với cùng quý năm 2012. Trong 9 tháng đầu năm, nguồn cung dầu của OECD tăng trung bình 0,99 triệu thùng/ngày, so với cùng kỳ năm trước.
Nguồn cung của OECD châu Mỹ tăng trung bình 1,35 triệu thùng/ngày trong ba quý đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012.
Tăng trưởng của Hoa Kỳ hiện nay trong năm 2013 là cao nhất trong kỷ lục của quốc gia này và cao nhất trong số các nước không thuộc OPEC. Sự phát triển của dầu đá phiến có thể là thúc đẩy chính của tăng trưởng mạnh mẽ đã đạt được đến nay và được dự kiến tiếp tục suốt năm 2013 tại Texas, Bắc Dakota và các khu vực khác. Hơn nữa công suất LNG mới tiếp tục hỗ trợ dự đoán tăng trưởng trong nguồn cung của Hoa Kỳ năm 2013.
Nguồn cung của Hoa Kỳ tăng 1,39 triệu thùng/ngày trong quý 3 so với cùng kỳ năm 2012.
Sản lượng trung bình của OECD châu Âu là 3,48 triệu thùng/ngày trong quý 3, sản lượng hàng quý thấp nhất trong năm 2013, sụt giảm 90 nghìn thùng/ngày so với quý 2 và tương đối ổn định so với cùng quý năm 2012.
Nói chung, nguồn cung dầu tăng từ châu Phi và Mỹ La Tinh, trong khi Trung Đông và các nước châu Á khác được dự kiến sụt giảm. Trong ba quý đầu năm 2013, nguồn cung dầu của các nước đang phát triển được ước tính có mức trung bình 12,09 triệu thùng, ổn định so với cùng kỳ năm 2012.
Sản lượng của FSU tăng 120 nghìn thùng/ngày trong 3 quý đầu năm so với cùng kỳ năm 2012. Sản lượng dầu của Nga đạt trung bình 10,6 triệu thùng/ngày trong tháng 10, một kỷ lục mới của thời kỳ hậu Xô Viết và tăng 60 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Sự tăng trưởng của tháng 10 được hỗ trợ bởi lượng dầu mới từ giếng Trebs. Trong ba quý đầu năm 2013, sản lượng dầu của Nga tăng 0,13 triệu thùng so với cùng kỳ năm 2013.
Theo số liệu sơ bộ, sản lượng dầu của Trung Quốc trong tháng 9 đạt trung bình 4,18 triệu thùng/ngày, tăng 30 nghìn thùng/ngày so với tháng trước. Nguồn cung dầu của Trung Quốc tăng 110 nghìn thùng/ngày trong 9 tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm trước.
3. Tình hình tiêu thụ trên thế giới
Tại Hoa kỳ, số liệu thực mới nhất trong tháng 8/2013 chỉ ra tăng trưởng nhu cầu dầu sụt giảm từ những mức cao đã ghi nhận trong tháng 7. Điều này đánh dấu tăng trưởng nhu cầu dầu tháng 8/2013 là tháng tăng trưởng tiêu thụ dầu thấp nhất trong 3 quý, số liệu tháng 9/2013 vẫn là sơ bộ. Tăng trưởng nhu cầu dầu tháng 8 sụt giảm 48 nghìn thùng/ngày so với cùng kỳ năm trước.
Số liệu sơ bộ cho tháng 9 và tháng 10/2013 dự đoán tăng trưởng trong cả hai tháng, với thống kê ban đầu tăng tương ứng hơn 5% và 2%. Tất cả các sản phẩm dự đoán tăng trưởng tích cực, ngoại trừ dầu FO tiếp tục gây thất vọng do chuyển sang các nhiên liệu thay thế khác.
Tháng 9/2013 tiêu thụ dầu tại bốn nước lớn EU tăng, với tổng lượng tiêu thụ ước tính chỉ dưới 7 triệu thùng trong tháng này, so với 6,9 triệu thùng trong tháng 9/2012, tăng 88 nghìn thùng/ngày hay 1,3%. Điều này được hỗ trợ bởi số liệu tiêu thụ dầu tích cực tại Anh và Đức, trong khi số liệu từ Pháp và Italy giảm. Tại Anh, tăng trưởng 0,1 triệu thùng/ngày hay khoảng 7% được ghi nhận trong tháng 9, với hầu hết sản phẩm dầu mỏ đều tăng, ngoại trừ dầu khí và dầu FO.
Tại Đức số liệu thực sự tháng 8/2013 là mạnh mẽ, tăng trên 0,1 triệu thùng/ngày, tương đương tăng 6% so với cùng tháng năm ngoái. Tất cả các loại sản phẩm đều tăng ngoại trừ xăng. Số lượng ô tô đăng ký thấp hơn trong tháng 8 được xem như góp phần làm giảm tiêu thụ xăng.
Tháng 9, tiêu thụ tại Pháp và Italy tiếp tục theo diễn biến của tháng trước. Tâm lý chung của quy mô tiêu thụ dầu giảm đã được cải thiện đáng kể so với tháng trước. Khi nền kinh tế Pháp ra khỏi suy thoái với tăng trưởng GDP quý 2 và quý 3 ở mức 0,4%, tăng trưởng so với quý trước mạnh nhất kể từ năm 2011 – tiêu thụ của hộ gia đình được xem như đóng góp tích cực tới cải thiện này. Một mặt khác, tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao trên 8% từ mức 7,5% ghi nhận trong tháng 8, nhưng thấp dưới mức tháng 9/2012.
Tỷ lệ thất nghiệp của Italy vẫn trên 12%, trong khi sản xuất công nghiệp của nước này đã không thay đổi, với GDP dự kiến giảm 1,4% trong năm 2013. Điều này dẫn đến kết quả, tiêu thụ dầu tổng thể của Pháp và Italy được dự đoán bị áp lực bởi sự phục hồi kinh tế chậm chạp nói chung, tỷ lệ thất nghiệp cao và các chương trình thắt lưng buộc bụng.
Tại Nhật Bản, việc thay thế dầu thô và dầu FO bằng than đá và các nhiên liệu khác tiếp tục trong tháng 9. Số liệu trong tháng 9 chỉ ra một sự sụt giảm đáng kể trong dầu đốt nóng trực tiếp, chiếm hơn 46% so với những mức một năm trước. Sự sụt giảm tương tự được lưu ý trong tiêu thụ dầu FO, giảm hơn 0,2 triệu thùng/ngày hay hơn 25%. Sự sụt giảm này kết hợp với tiêu thụ xăng giảm nhẹ gây ra tiêu thụ dầu tổng thể tại Nhật Bản sụt giảm hơn 0,2 triệu thùng/ngày hay giảm hơn 5% trong tháng 9 này
Tại Ấn Độ, nhu cầu dầu trong tháng 9/2013 tăng lần đầu tiên kể từ tháng 5/2013, tăng 1,6% so với cùng tháng năm trước, thúc đẩy bởi nhu cầu nguyên liệu để phát điện và sản xuất xi măng tăng lên. Sự tăng trưởng này bất chấp những lo ngại tiếp tục liên quan tới sự mất giá của đồng rupee và những vấn đề tài chính đang giải quyết.
Tiếp theo nhu cầu mạnh trong tháng 8/2013, nhu cầu dầu của Trung Quốc trở nên yếu trong tháng 9 với tăng trưởng chỉ 1,5% và thấp hơn những mức trung bình trong lịch sử. Nhu cầu dầu của Trung Quốc trong tháng 9 được xác định chủ yếu bằng việc sử dụng LPG ngày càng tăng trong ngành hóa dầu và dầu diesel/ dầu khí, cả trong lĩnh vực giao thông và công nghiệp, trong khi nhu cầu của nhiên liệu máy bay/dầu hỏa, xăng và dầu FO sụt giảm so với cùng tháng năm 2012.
4. Dự báo
Tổng nguồn cung của các nước không thuộc OPEC trong năm 2013 được dự kiến tăng 1,18 triệu thùng/ngày so với năm 2012 lên mức 54,10 triệu thùng/ngày.
Bảng 2: Dự báo nguồn cung dầu của các nước không thuộc OPEC
ĐVT: triệu thùng/ngày
|
|
2012
|
1Q13
|
2Q13
|
3Q13
|
4Q13
|
2013
|
+/- 13/12
|
|
Châu Mỹ
|
16,75
|
17,66
|
17,62
|
18,26
|
18,31
|
17,96
|
1,21
|
|
Châu Âu
|
3,77
|
3,63
|
3,57
|
3,48
|
3,55
|
3,56
|
-0,21
|
|
Châu Á Thái Bình Dương
|
0,56
|
0,45
|
0,49
|
0,52
|
0,51
|
0,49
|
-0,07
|
|
Tổng OECD
|
21,08
|
21,73
|
21,69
|
22,26
|
22,37
|
21,01
|
0,93
|
|
Các nước châu Á khác
|
3,64
|
3,65
|
3,56
|
3,49
|
3,57
|
3,57
|
-0,07
|
|
Mỹ La Tinh
|
4,67
|
4,71
|
4,73
|
4,77
|
4,87
|
4,77
|
0,10
|
|
Trung Đông
|
1,50
|
1,48
|
1,35
|
1,37
|
1,36
|
1,39
|
-0,11
|
|
Châu Phi
|
2,30
|
2,30
|
2,42
|
2,44
|
2,48
|
2,41
|
0,11
|
|
Tổng cộng các nước đang phát triển
|
12,12
|
12,14
|
12,06
|
12,08
|
12,29
|
12,14
|
0,02
|
|
FSU
|
13,30
|
13,45
|
13,39
|
13,43
|
13,47
|
13,43
|
0,13
|
|
Các nước châu Âu khác
|
0,14
|
0,14
|
0,14
|
0,14
|
0,14
|
0,14
|
0,00
|
|
Trung Quốc
|
4,16
|
4,24
|
4,27
|
4,15
|
4,21
|
4,22
|
0,06
|
|
Tổng các khu vực khác
|
17,60
|
17,82
|
17,80
|
17,71
|
17,82
|
17,79
|
0,19
|
|
Sản lượng của các nước ngoài OPEC
|
50,80
|
51,69
|
51,54
|
52,05
|
52,48
|
51,94
|
1,14
|
|
Tăng cường chế biến
|
2,12
|
2,15
|
2,15
|
2,15
|
2,15
|
2,15
|
0,04
|
|
Tổng nguồn cung của các nước ngoài OPEC
|
52,92
|
53,84
|
53,70
|
54,21
|
54,63
|
54,10
|
1,18
|
|
Ước tính trước đó
|
52,92
|
53,85
|
53,76
|
54,07
|
54,55
|
54,06
|
1,14
|
|
Điều chỉnh
|
-0,01
|
-0,01
|
-0,06
|
0,13
|
0,08
|
0,04
|
0,04
|
Nguồn OPEC
Tăng trưởng nhu cầu dầu thế giới ước tính lên mức trung bình 89,78 triệu thùng trong năm 2013, tăng 0,86 triệu thùng/ngày hay khoảng 1% so với năm 2012. Đối với năm 2014, nhu cầu được dự kiến tăng khoảng 1,04 triệu thùng/này hay 1,2% so với năm 2013, với nhu cầu dầu thế giới dự đoán đạt tới 90,78 triệu thùng/ngày.
Bảng 3: dự báo nhu cầu dầu thế giới năm 2013, triệu thùng/ngày
|
|
2012
|
1Q13
|
2Q13
|
3Q13
|
4Q13
|
2013
|
|
|
|
Châu Mỹ
|
23,63
|
23,73
|
23,74
|
23,82
|
23,80
|
23,77
|
|
|
Châu Âu
|
13,74
|
13,17
|
13,70
|
13,66
|
13,38
|
13,48
|
|
|
Châu Á Thái Bình Dương
|
8,59
|
8,92
|
7,88
|
8,25
|
8,74
|
8,45
|
|
|
Tổng cộng OECD
|
45,96
|
45,81
|
45,32
|
45,73
|
45,92
|
45,70
|
|
|
Các nước châu Á khác
|
10,86
|
10,91
|
11,08
|
11,11
|
11,14
|
11,06
|
|
|
Mỹ La Tinh
|
6,27
|
6,21
|
6,47
|
6,74
|
6,59
|
6,50
|
|
|
Trung Đông
|
7,59
|
7,79
|
7,76
|
8,20
|
7,75
|
7,88
|
|
|
Châu Phi
|
3,44
|
3,42
|
3,45
|
3,38
|
3,54
|
3,45
|
|
|
Tổng cộng các nước đang phát triển
|
28,16
|
28,33
|
28,76
|
29,42
|
29,02
|
28,89
|
|
|
FSU
|
4,41
|
4,33
|
4,18
|
4,58
|
4,83
|
4,48
|
|
|
Các nước châu Âu khác
|
0,64
|
0,63
|
0,59
|
0,63
|
0,71
|
0,64
|
|
|
Trung Quốc
|
9,74
|
9,79
|
10,19
|
9,91
|
10,41
|
10,07
|
|
|
Tổng các khu vực khác
|
14,80
|
14,75
|
14,95
|
15,11
|
15,95
|
15,19
|
|
|
Tổng nhu cầu thế giới
|
88,92
|
88,89
|
89,03
|
90,27
|
90,89
|
89,78
|
|
|
Dự đoán trước đó
|
88,92
|
88,86
|
88,96
|
90,22
|
90,89
|
89,74
|
|
|
Điều chỉnh
|
0,00
|
0,03
|
0,07
|
0,02
|
-0,00
|
0,04
|
|
Nguồn OPEC
Cơ quan năng lượng quốc tế cho biết rằng trong khi các thị trường dầu có nguồn cung tốt trong ngắn hạn, giá có thể tăng trong vài tháng tới do nhu cầu tăng theo mùa và sản lượng gián đoạn tại một số nhà sản xuất của OPEC gồm Libya và Iraq.
EIA dự báo dầu Brent có giá trung bình 106 USD/thùng trong tháng 12 và 103 USD/thùng vào năm 2014. Dầu WTI có giá 95 USD/thùng vào năm 2014.
II. THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
1. Diễn biến giá xăng dầu trong nước tháng 11
Ngày 11/11 giá xăng giảm 250 đồng/lít, đây là lần giảm thứ ba liên tiếp trong hai tháng rưỡi qua với tổng mức giảm 940 đồng một lít. Tính từ đầu năm, giá xăng dầu trong nước đã có 6 lần giảm và 4 lần tăng giá.
Theo thông báo của Bộ Tài chính, giá bán mỗi lít xăng RON 92 cao hơn 241 đồng so với giá cơ sở bình quân 30 ngày kể từ 12/10. Bộ Tài chính yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối tiếp tục sử dụng quỹ bình ổn giá như hiện hành (200 đồng/lít); đồng thời chủ động rà soát lại phương án giá, cách tính giá theo quy định để điều chỉnh giảm giá bán xăng phù hợp, tối thiểu không thấp hơn mức chênh lệch giữa giá bán hiện hành và giá cơ sở (241 đồng một lít).
Đối với các mặt hàng dầu, doanh nghiệp được tạm tính lợi nhuận định mức 100 đồng/lít trong cơ cấu giá cơ sở đối với mặt hàng dầu diesel, dầu hỏa; tiếp tục sử dụng quỹ bình ổn giá như hiện hành (dầu diesel: 300 đồng/lít, dầu hỏa: 700 đồng/lít, dầu mazút: 200 đồng/kg).
Đại diện Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) - đơn vị chiếm thị phần lớn nhất cả nước cho biết đã có quyết định giảm giá 250 đồng một lít xăng RON 95 và 92, lần lượt về mức 24.130 đồng và 23.630 đồng, áp dụng cho khu vực một.
2. Tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu
Đến hết ngày 8-11, Công ty BSR đã nhập 79 chuyến dầu thô với khối lượng 6,22 triệu tấn, đạt 101% kế hoạch năm. Đồng thời sản xuất và bán ra thị trường 5,65 triệu tấn sản phẩm, đạt kế hoạch năm, nhà máy đã hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm 2013 về sản lượng trước 54 ngày. Với tổng doanh thu trên 127,9 ngàn tỷ đồng, công ty vượt kế hoạch năm 16,77%, nộp ngân sách nhà nước trên 23.000 tỷ đồng, vượt 72,42% kế hoạch.
Theo số liệu từ Tổng cục Hải quanlượng xuất khẩu dầu thô trong tháng 10 là 737 nghìn tấn với kim ngạch 660,7 triệu USD tăng 45,8% về lượng và 42,6% về trị giá so với tháng 9. Tính hết tháng 10/2013, lượng dầu thô xuất khẩu của cả nước là 6,94 triệu tấn, giảm 10,8%, kim ngạch đạt 5,997 tỷ USD, giảm 13,5% so với cùng kỳ năm 2012.
Trong 10 tháng đầu năm nay dầu thô của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Nhật Bản: 1,925 triệu tấn, giảm 15,5%; sang Australia: 1,568 triệu tấn, tăng gần 16%; sang Malaysia: 971 nghìn tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2012.
Lượng xăng dầu nhập khẩu (không kể dầu thô) trong tháng 10 là hơn 673 nghìn tấn, trị giá hơn 655 triệu USD, tăng 35,5% về lượng và tăng 38,2% về trị giá so với tháng trước. Cộng dồn 10 tháng đầu năm 2013, tổng lượng xăng dầu nhập khẩu của cả nước là 6,15 triệu tấn, trị giá gần 5,806 tỷ USD, giảm 22,6% về lượng và giảm 25,1% về trị giá.
Lượng nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam trong 10 tháng qua giảm mạnh, chủ yếu là giảm nhập khẩu từ thị trường chính Singapore với lượng nhập khẩu là 1,83 triệu tấn, giảm 45,7%. Lượng nhập khẩu từ một số thị trường chính khác như: Đài Loan: hơn 1,07 triệu tấn, giảm 3,6%; Trung Quốc: 1,03 triệu tấn, giảm 5,5%; Kuwait: 603 nghìn tấn, tăng gần 19,2%; Malaysia: hơn 472 nghìn tấn, tăng 99,2%...so với cùng kỳ năm 2012.
(Nguồn: Vinanet)