EU là nhà nhập khẩu hàng hóa hóa của Việt Nam lớn thứ 2 sau Hoa Kỳ. Nhưng về tiềm năng, đây là thị trường có dung lượng rất lớn, xuất khẩu của Việt nam vào thị trường này chưa thực sự tương xứng với năng lực sản xuất và tiềm năng xuất khẩu của mình. Ngoài những nguyên nhân khách quan khác, rào cản kỹ thuật của EU là một trong những chướng ngại vật không nhỏ hạn chế hàng hóa nhập khẩu từ của Việt Nam.
1. Tổng quan về cơ cấu, tỷ trọng và thị phần hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU trong năm 2009
1.1-  Kim ngạch
EU là thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn thứ 2 của Việt Nam, sau Hoa kỳ. Theo số liệu của Eurostat, năm 2009 Việt nam xuất khẩu lượng hàng hóa sang thị trường EU đạt trị giá 7,77 tỷ euro chiếm 18,1% tổng trị giá kim ngạch nhập khẩu từ các nước trên thế giới và chiếm 0,6% thị phần tại EU.
Nếu tính tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu thì EU là bạn hàng thứ 2 của Việt nam sau Trung Quốc và xếp trên Hoa kỳ (trị giá kim ngạch xếp theo thứ tự: 12,36 tỷ, 11,19 tỷ và 10,9 tỷ). Việt Nam luôn xuất siêu so với EU trong nhiều năm qua, năm 2009 đạt 4,04 tỷ euro, trong đó nhóm hàng nông sản là 1,42 tỷ và hàng công nghiệp 2,62 tỷ.
1.2- Cơ cấu, tỷ trọng và thị phần
Mặt hàng
Kim ngạch
(Triệu /euro)
Tỷ trọng tổng kim ngạch XK
(%)
Thị phần nhập khẩu của EU
(%)
Nguyên liệu thô
1.880
24,2
0,4
          - Hàng nông, hải sản
1.870
24
1,9
 
 
 
 
Hàng công nghiệp
5.780
74,3
0,8
          - Giầy dép
1.873
 
13,1
          - May mặc
1.230
15,8
0,7
          - Sản phẩm dệt
117
1,5
1,9
          - Nguyên, phụ liệu
406
5,2
0,7
          - Máy móc, thiết bị
771
9,9
0,2
            + T/bị VP, viễn thông
440
5,7
0,3
            + Thiết bị vận tải
154
2
0,3
            + Máy móc khác
177
2,3
0,2
Nhóm hàng khác
 
 
 
Việt Nam xếp thứ 31 trong số các nước xuất khẩu vào EU (so với các nước ASEAN, Việt Nam đứng sau Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia[1]), trong đó nhóm hàng nguyên liệu thô xếp thứ 38(thủy sản thứ 4, thực phẩm chế biến thứ 13, nông sản thứ 17, nguyên liệu thô thứ 34...), nhóm hàng công nghiệp, gia công xếp thứ 22 (đồ dùng trong nhà, đồ cá nhân thứ 2, hàng may mặc thứ 7, sản phẩm dệt thứ 16, thiết bị văn phòng và thiết bị dữ liệu thứ 16 và thiết bị bưu chính viễn thông thứ 21).
Với thị trường gần 500 triệu dân, EU được đánh giá là thị trường có sức tiêu thụ hàng hóa lớn nhất thế giới. Mặc dầu mức tăng trưởng xuất khẩu của Việt nam trong các năm vừa qua luôn có mức tăng trưởng khá, Việt Nam luôn suất siêu so với EU, tuy nhiên, so với nhiều nước kể cả so với các nước ASEAN, xuất khẩu của Việt nam vào thị trường này chưa thực sự tương xứng với năng lực sản xuất và tiềm năng xuất khẩu của mình. Ngoài những nguyên nhân khách quan khác, rào cản kỹ thuật của EU là một trong những chướng ngại vật không nhỏ hạn chế hàng hóa nhập khẩu từ của Việt Nam.
Việc nhận diện đúng các rào cản kỹ thuật sẽ tạo tiền đề để đề ra các biện pháp và giải pháp thích hợp thúc đẩy xuất khẩu của Việt nam trong giai đoạn trước mắt và giai đoạn trung hạn.
2. Nhận diện về rào cản kỹ thuật của EU có ảnh hưởng đến hàng xuất khẩu của Việt nam.
Theo tổng kết của WTO, Hoa Kỳ và EU là 2 nước và khu vực áp dụng các rào cản kỹ thuật nhiều nhất so với các nước khác trên thế giới, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới từ cuối năm 2007, các nước đang phát triển trong đó EU là điển hình có xu hướng tăng cường áp dụng các rào cản thương mại nhằm bảo hộ thị trường và sản xuất trong nước dưới nhiều hình thức khác nhau. Theo số liệu thống kê, tính đến đầu năm 2010, EU đang áp dụng 135 trường hợp thuế chống bán phá giá và 8 trường hợp thuế chống trợ cấp, đang tiến hành điều tra đối với 57 trường hợp khác.
Tùy theo các góc độ phân tích kinh tế khác nhau, rào cản kỹ thuật có thể được phân loại thành  hai loại chính là rào cản quan thuế quan và rào cản phi quan thuế, ngoài ra còn được phân loại theo  rào cản “hữu hình”, rào cản “vô hình”, hoặc rào cản “cứng”, rào cản “mềm”, rào cản tại biên giới và rào cản bên trong lãnh thổ... riêng đối với EU, ngoài các rào cản được quy định chung, trên thực tế hàng hóa của các nước thứ ba khi nhập khảu vào EU còn gặp phải những rào cản riêng của các nước thành viên, của các ngành sản xuất, lĩnh vực kinh tế tư nhân, của các hệ thống kinh doanh bán lẻ  ...
(1) Các loại rào cản quan thuế và phi quan thuế:
-         Rào cản thuế quan (Tariff Barriers): thuế GSP (mức thuế suất và tiêu chí loại trừ), thuế tuyệt đối, thuế phụ thu, thuế VAT, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế môi trường...
-         Rào cản phi thuế quan (Non-Tariff Barriers):  SPS, TBT, hạn ngạch thuế quan, quy định về xuất xứ và truy xuất nguồn gốc, quy định về nhãn mác, quy định về bao bì đóng gói, tiêu chuẩn tiếp thị và hệ thống phân phối hàng hóa, tiêu chuẩn môi trường, biến đổi khí hậu, điều kiện về lao động, trách nhiệm xã hội,  bảo hộ sở hữu trí tuệ, quy định bảo vệ người tiêu dùng, thủ tục hải quan, các tiêu chí về biến đổi khí hậu, các quy định riêng của các tập đoàn, hệ thống bán lẻ, các chương trình hỗ trợ xuất khẩu, trợ giá, xúc tiến quảng cáo ...
(2) Các loại rào cản “cứng” và “mềm”:
-         Các loại rào cản “cứng” là rào cản đã được quy định tại các văn bản pháp quy của EU và phù hợp với các định chế của WTO (luật hóa) – có lúc còn được gọi là rào cản theo chiều ngang;
-          Các loại rào cản “mềm” là các loại rào cản được thể hiện tại các văn bản dưới Luật, các tiêu chuẩn kỹ thuật ngành, tiêu chuẩn của mỗi quốc gia thành viên EU, tiêu chuẩn riêng của các hệ thống phân phối, siêu thị...còn được gọi là rào cản theo chiều dọc.
(3) Rào cản tại biên giới và rào cản bên trong lãnh thổ
          - Tại biên giới: thủ tục hải quan, các hệ thống kiểm tra chất lượng, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm khi làm thủ tục nhập khẩu, cấp phép, quy định đối với hàng tạm nhập, tái xuất, tiêu chuẩn kho ngoại quan, hệ thống cảnh báo...;
          - Bên trong lãnh thổ: các quy định về bảo hộ người tiêu dùng, về vệ sinh an toàn thực phẩm, về tiếp thị và hệ thống bán lẻ, về tiêu chí về phòng thí nghiệm, các nghiên cứu đánh giá rủi ro, nghiên cứu khoa học...
(4) Rào cản “vô hình”: là những rào cản nhằm làm tăng sức cạnh tranh hàng nội địa thông qua các gói trợ cấp, các chương trình quảng bá chất lượng sản phẩm EU có gắn với thân thiện môi trường, đảm bảo vệ sinh thực phẩm và nhất là hệ thống văn bản pháp quy của EU quy định hạn chế nhập khẩu vô cùng phức tạp và quá nhiều văn bản khác nhau...
 
2.1-         Các rào cản kỹ thuật chính áp dụng cho các mặt hàng Công nghiệp
Là khu vực có kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, nên EU chủ trương tự do hóa thương mại lĩnh vực này, thể hiện rõ ở việc cam kết của EU trong khuôn khổ WTO về thuế suất thuế nhập khẩu ở mức thấp và các cam kết mở cửa thị trường đối với các sản phẩm công nghiệp.
Trên thực tế, để hạn chế hàng nhập khẩu cùng loại của các nước khác, tăng khả năng cạnh tranh đối với hàng công nghiệp, EU áp dụng các loại rào cản “cứng” là:
-         Thuế và chính sách thuế GSP: bên cạnh chính sách thuế GSP, EU sử dụng các loại thuế chống bán phá giá (AD), thuế chống trợ cấp (AS), thuế gian lận, thuế môi trường...
-         Các tiêu chuẩn theo Hiệp định TBT/WTO, các tiêu chuẩn ngành, yêu cầu hợp chuẩn kỹ thuật...
-         Bảo hộ sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, thương hiệu, bằng phát minh, sáng chế...);
-         Các yêu cầu về bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu,
-         Trách nhiệm xã hội, điều kiện lao động;
-         Bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng ... 
-         Thủ tục hải quan.
Một số rào cản cụ thể đối với mặt hàng công nghiệp:
2.1.1- REACH (Registration, Evaluation, Authorisation and Restriction of Chemicals) \
Quyết định của EU số  1907/2006, có hiệu lực từ ngày 1/6/2007, là Quy chế  về đăng ký, đánh giá, cấp phép,  và quy định hạn chế và không sử dụng một số loại hóa chất độc hại trong sản xuất. Các văn bản pháp quy sửa đổi bổ sung các năm 2008, 2009 và 2010 theo các văn bản 987/2008, 134/2009, 552/2009, 276/2010, 2010/226/EU và nhiều văn bản khác quy định đối với các loại hóa chất, sản phẩm hóa chất khác nhau. 
Mục tiêu chính của REACH là để đảm bảo một mức độ cao về bảo vệ sức khỏe con người và môi trường chống lại các rủi ro tiềm ẩn gây ra bởi hóa chất, thúc đẩy phương pháp thử nghiệm thay thế, sự lưu thông tự do của các chất trên thị trường EU và tăng cường khả năng cạnh tranh và đổi mới.
Phạm vi áp dụng: các loại hóa chất và sản phẩm hóa chất (một số loại hóa chất đặc biệt: phân bón, chất tẩy, chất nổ, pháo hoa, chất tiền ma túy, các hợp chất khác …), chất nano, hoặc các hóa chất dùng để sản xuất ra sản phẩm dân dụng…
Tác động đối với Việt nam: các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu phải tuân thủ những quy định khắt khe về chế độ khai báo, thủ tục đăng ký, được các cơ quan chức năng của EU đánh giá tác động đến sức khỏe, môi trường (thử nghiệm trên động vật) và việc cấp phép nhập khẩu vì vậy có nhiều tiềm ẩn, rủi ro... , ngoài ra làm tăng thêm chi phí (REACHquy định việc thu phí và lệ phí đối với việc đăng ký, đánh giá rủi ro, cấp phép cả trong và ngoài nước), phải đổi mới máy móc, thiết bị công nghệ phù hợp với tiêu chuẩn (thường là hướng về công nghệ do EU sản xuất) và cuối cùng sức cạnh tranh về giá giảm sút, khó thâm nhập thị trường.
 
2.1.2- RoHS / WEEE
(i) RoHS  (Restriction of the use of certain Hazardous Substances):
Quyết định số 2002/95/EC, có hiệu lực kể từ 1/7/2006, quy định các thiết bị điện, điện tử lưu thông trên thị trường không được chứa bất kỳ một trong các hóa chất  bị cấm sử dụng: chì, thủy ngân, cadmium, hexavalent chromium, poly-brom biphenyl (PBB) hoặc ete diphenyl polybrom hóa (PBDE)… cũng như khuyến khích việc thu hồi và tái chế những sản phẩm này. Quyết định này được sửa đổi bằng Chỉ thị số 2008/35/EC. 
(ii) WEEE (Waste Electrical and Electronic Equipment): 
Chỉ thị số 2002/96/EC, quy định về rác thải (thu hồi và tái chế) đối với rác thải điện tử và thiết bị điện tử được sửa đổi tại Chỉ thị số 2008/34/EC.
RoHS và WEEE là những văn bản pháp quy của EU, song trên thực tế đây chỉ là những văn bản mang tính định hướng cho các văn bản pháp quy của từng quốc gia thành viên, do vậy khi xuất khẩu những mặt hàng thuộc nhóm này, các doanh nghiệp (nhà sản xuất và xuất khẩu) vừa phải đáp ứng theo quy định của EU vừa phải đáp ứng các tiêu chuẩn của từng nước thành viên (những quy định của các nước thành viên có thể có những sự khác biệt).
2.1.3- FLEGT(Forest Law Enforcement, Governance and Trade)
Quy định số 2173/2005 ngày 20/12/2005, quy định hệ thống cấp giấp phép nhập khẩu đối với gỗ, sản phẩm gỗ hoặc sản phẩm có thành phần gỗ nhập khẩu vào EU nhằm quản lý việc khai thác gỗ bất hợp pháp, ngăn chặn việc chặt, phá rừng bất hợp pháp, phá hủy môi trường thiên nhiên.
Đây là một trong những quy định nhằm hạn chế nhập khẩu sản phẩm có sử dụng gỗ bất hợp pháp nhằm bảo vệ thiên nhiên, môi trường và biến đổi khí hậu. EU khuyến khích các nước xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vào EU ký Hiệp định nhằm quản lý và tổ chức thực hiện mục đích này và quy định các nước thành viên, các tập đoàn kinh doanh bán buôn, bán lẻ tham gia vào chương trình này.
2.1.3- Chính sách đầu tư (Comprehensive Investment Policy)
Lĩnh vực đầu tư FDI, hiện nay văn bản pháp quy của EU chưa thống nhất về lĩnh vực này, từng nước thành viên áp dụng theo quy định riêng. Hiện EU đang soạn thảo các văn bản pháp quy về FDI chung. Rất nhiều vấn đề có liên quan đến FDI hiện nay đang được đặt ra và tìm cách tháo gỡ, trong đó chủ yếu vẫn là FDI giữa các nước thành viên EU và FDI giữa 1 nước thành viên EU với nước thứ ba...
Việc đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào EU để sản xuất, chế tác, phân phối hàng trong tương lai là một trong những hướng cần được quan tâm nhằm tăng khả năng tiếp cận thị trường và tăng hàm lượng giá trị gia tăng sản phẩm, nhất là trong lĩnh vực tái chế, chế biến, gia công để phân phối hàng tại EU. Lĩnh vực hệ thống bán buôn, bán lẻ được EU quản lý tương đối chặt thong qua hệ thống văn bản pháp quy, thông tư hướng dẫn và cấp phép rất phức tạp và khó khăn.
2.1.4- Luật hải quan mới
Quy định số 450/2008 về hiện đại hóa hải quan, một số điều khoản có hiệu lực thực hiện kể từ 24/6/2009 và một số điều khoản khác sẽ có hiệu lực thực hiện từ 24/6/2013, theo hướng tăng cường kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu, hàng nhập khẩu phải khai báo trước nhằm chống gian lận thương mại, hàng nhái, hàng giả và chống khủng bố, thực hiện việc khai báo bằng điện tử và nối mạng giữa hải quan các nước thành viên.
2.1.5- Biến đổi khí hậu, môi trường:
Chính sách thương mại mới của EU là gắn thương mại với các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động nhà kính và khí thải. Nếu các nước đang phát triển thông qua và thực hiện các hiệp định quốc tế về môi trường có thể sẽ được hưởng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi phổ cập (GSP). EU chủ trương đẩy mạnh thương mại hàng hóa và dịch vụ gắn liền với môi trường, như các sản phẩm sử dụng năng lương tái tạo, quản lý rác thải và nguồn nước… cũng như khuyến khích phát triển công nghệ mới trong lĩnh vực này.
2.1.6- Chính sách mới về các hiệp định thương mại (FTA)
Chủ trương của EU là sẽ đàm phán đưa vấn đề môi trường và phát triển bền vững vào nội dung của các hiệp định ký với các đối tác. Các nhà hoạch định chính sách thương mại và các nhà đàm phán hiệp định thương mại của EU sẽ phối hợp chặt chẽ trong vấn đề này.
Một số rào đối với một số mặt hàng công nghiệp
(i)                Mặt hàng xe đạp:
Mặt hàng này hiện đang bị tác động bởi các loại rào cản: thuế và chính sách thuế (GSP), thuế chống bán phá giá (Anti-dumping), thuế VAT, các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định về nhãn mác và an toàn sức khỏe đối với người tiêu dùng …
Thuế GSPhiện hành (áp dụng đến cuối năm 2011) đối với xe đạp, có 123 nước được hưởng mức thuế ưu đãi 0% và 30 nước (trong đó có Việt Nam) hưởng mức thuế 10,5% , xe đạp điện là 2,5% và phụ tùng 1,2%. EU không áp dụng chính sách hoàn thuế xuất khẩu đối với trường hợp nhập khẩu phụ tùng từ nước thứ 3 để sản xuất xe đạp tại EU sau đó xuất khẩu sang nước khác.
Thuế VAT, có 5 nước thành viên EU áp dụng giảm thuế VAT đối với lĩnh vực lắp ráp, sửa chữa xe đạp. Một số nước (Bỉ, Hà Lan, Anh ...) đang áp dụng chính sách miễn thuế nhằm giảm khí thải Co2 đối với những cán bộ đăng ký và đi xe đạp đến công sở làm việc. Một số Tập đoàn lớn đang đề nghị EU xem xét về thuế đối với vận tải, môi trường và năng lượng.
Thuế Anti-dumping, do xe đạp có nguồn gốc từ Việt Nam đap bị áp mức thuế chống bán giá từ 15,8 – 34,5%, nên lượng xe đạp Việt Nam nhập khẩu vào EU giảm sút mạnh, Việt Nam hiện không còn nằm trong số 10 nước xuất khẩu xe đạp lớn nhất vào EU[2].
Tháng 7/2006, EU quy định tiêu chuẩn CEN đối với xe đạp và phụ tùng xe đạp nhằm mục đích bảo vệ sức khỏ người tiêu dùng, theo đó các tiêu chuẩn kỹ thuật  phải phù hợp với Chỉ thị về an toàn sản phẩm số 2001/95/EC mới đủ điều kiện nhập khẩu và phân phối tại EU. Đối với tiêu chuẩn về độ an toàn đối với xe đạp dành cho trẻ em đang được soạn thảo. Các tiêu chuẩn này được áp dụng chung cho 27 nước thành viên EU, tuy nhiên không có văn bản pháp quy quy định bắt buộc phải áp dụng các tiêu chuẩn này, do vậy một số nước thành viên tùy ý lựa chọn tiêu chuẩn CEN hoặc tiêu chuẩn riêng của mình.
Tiêu chuẩn mới EN 15194 có hiệu lực kể từ năm 2009 đối với xe đạp chạy bằng ắc quy, theo đó quy định về tiêu chuẩn ắc quy và các quy định  RoHS/WEEE đã nêu ở trên.
(ii)             Nhóm hàng giấy dép, dệt- may mặc
Nhóm hàng này thường bị hạn chế nhập khẩu bằng các loại rào cản kỹ thuật về thuế (trong đó chủ yếu là thuế chống bán phá giá), nhãn EC, quy định về nhãn mác, quy định về RoHS / WEEE và REACH, quy định về xuất xứ …
o   Giầy dép: Kể từ 2006, giày mũ da Việt Nam bị áp thuế chống bán phá giá, và mới đây tiếp tục bị gia hạn áp dụng với  mức thuế suất nhập khẩu là10%. Việc áp thuế này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành công nghiệp giày da Việt Nam và lượng hàng giầy cao cấp của Việt Nam xuất khẩu sang EU. Ngoài ra, còn có quy định bắt buộc về cách thức ghi nhãn mác đối với các nguyên phụ liệu chính của giầy.  Kết quả là cũng như nhóm hàng xe đạp, Việt nam bị loại ra khỏi nhóm 10 nước xuất khẩu lớn nhất vào EU.
o   Nhóm hàng dệt – may mặc, bắt buộc phải có chứng chỉ sạch và thân thiện môi trường.
(iii)           Một số nhóm hàng khác  (Xem phụ lục 1 đính kèm)
2.2-         Rào cản áp dụng đối với các mặt hàng nông nghiệp
Khác với công nghiệp, nông nghiệp là lĩnh vực mà các nước phát triển chưa muốn tự do hóa thương mại và thực hiện chính sách bảo hộ thông qua nhiều loại rào cản khác nhau.
Chính sách bảo hộ nông nghiệp chiếm vị trí hết sức quan trọng trong chính sách thương mại quốc tế và là một trong những ưu tiên hàng đầu của EU. Hiện có tới 56% dân số và 91% điện tích đất của EU thuộc lĩnh vực nông nghiệp – lâm nghiệp, trong đó lĩnh vực thực phẩm nông nghiệp là lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt. Ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống chiếm vị thế hàng đầu, với sản lượng đạt trị giá khoảng 600 tỷ euro/năm, chiếm khoảng 15% tổng lượng sản xuất công nghiệp, sử dụng 2,6 triệu lao động, trong đó khoảng 30% là các doanh nghiệp nhỏ và vừa; Lĩnh vực thực phẩm nông nghiệp đạt 220 tỷ euro, cung cấp 7,5 triệu lao động hàng năm với trị giá kim ngạch xuất khẩu hàng thực phẩm và đồ uống đạt trị giá 50 tỷ euro/năm.
Chính sách bảo hộ nông nghiệp của EU được đánh giá ở mức cao nhất trên thế giới, dưới hình thức ban hành nhiều Luật, nhiều quyết định, thông tư, chỉ thị về quy đinh nhập khẩu, thực thi chính sách thị trường nông sản EU chung (CMP)[3]các biện pháp hạn chế nhập khẩu, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, bảo hộ sở hữu trí tuệ...... bao trùm lên tất cả các lĩnh vực sản xuất, chế biến, vận chuyển, tiếp thị ...không chỉ chi phối các hoạt động bên trong lãnh thổ EU mà còn chi phối cả những hoạt động sản xuất, chế biến, vận chuyển tại các nước xuất khẩu.
a) Các loại rào cản “hữu hình” đang được EU áp dụng gồm:  
- Thuế và chính sách thuế: Các điều kiện để loại trừ hoặc cho phép được hưởng thuế ưu đãi (GSP); áp dụng các mức thuế suất nhập khẩu khác nhau (thuế MFN, thuế tuyệt đối, thuế phụ thu, VAT...);
- Hoàn thuế VAT sau khi xuất khẩu (đối với một số lĩnh vực sản phẩm theo quy định, sẽ được bồi hoàn số thuế VAT và thực hiện theo tùy nước và các mức khác nhau);
- Áp đặt bảng giá giá tối thiểu theo mùa vụ để tính thuế nhập khẩu ...; 
- Quy định về hạn ngạch nhập khẩu:  hạn ngạch thuế quan[4],
- Chế độ cấp giấy phép nhập khẩu;
- Áp dụng các loại rào cản kỹ thuật: SPS/TBT, Luật thực phẩm, Luật về chất lượng sản phẩm, giám sát và kiểm tra chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, Luật bảo hộ sức khỏe người tiêu dùng, kiểm tra chất độc hại và dư lượng kháng sinh;
- Quy định về nhãn mác;
- Quy định về bảo hộ các sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu của EU, xuất xứ và chỉ dẫn địa lý;
- Quy định bao bì đóng gói;
- Quy định về thực phẩm biến đổi gien, thực phẩm mới, thực phẩm chức năng;
- Tiêu chuẩn về môi trường sinh thái, và điều kiện lao động …
b) Các loại rào cản “vô hình”: 
 
-  Trợ cấp cho lĩnh vực nông nghiệp. Ngoài các khoản trợ cấp trực tiếp cho từng lĩnh vực sản xuất, EU còn hỗ trợ gián tiếp thông qua các chương trình:
+ Các chương trình hỗ trợ đặc biệt nhằm giúp cho nông dân tự do lựa chọn loại sản phẩm phù hợp với diễn biến cung cầu thị trường mà vẫn được hưởng khoản trợ cấp trực tiếp không thay đổi
+ Chương trình lương thực, thực phẩm cấp miễn phí cho người nghèo, với số tiền hàng năm khoảng 500 triệu Euro, trong đó EU đóng góp 75% (giai đoạn 2010-2012) và 50/50 (2013-2015). Chương trình này giúp trợ giá cho nông dân và đảo kho dự trữ;
+ Chương trình cung cấp rau, quả tươi cho trẻ em bắt đầu từ năm 2009/2010 với nguồn ngân sách của EU hàng năm khoảng 90 triệu Euro;
+ Chương trình cung cấp miễn phí sửa và sản phẩm sữa đối với học sinh mẫu giáo, tiểu học và trung học (hơn 300 ngàn tấn sữa, tương đơng 50 triệu euro được cung cấp hàng năm cho học sinh EU);
-  Chiến dịch quảng bá sản phẩm trang trại của EU về chất lượng, giá trị dinh dưỡng và sự an toàn VSTP, phương pháp chế biến, bảo hộ chỉ dẫn xuất xứ, bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Chương trình quảng bá này được thực hiện trên các phương tiện truyền thông, dưới mọi hình thức khác nhau: họp báo, hội thảo, quảng cáo tại các cửa hàng, quảng cáo trên báo chí, trên truyền hình, internet, các bài nghiên cứu về đánh giá kết quả khoa học, bài viết về thị trường ... chương trình quảng bá này do một hoặc một số công ty chuyên ngành của các quốc gia thành viên thực hiện, kể cả Ủy ban EU và chính phủ các nước thành viên cũng thực thi chiến dịch quảng bá này, các báo chí, hãng thông tấn cũng tham gia vào chương trình này. Chương trình do EU tài trợ 50%, các tổ chức chuyên ngành đóng góp 20%, số còn lại do chính phủ các nước thành viên hỗ trợ. 15 sản phẩm nông nghiệp được tham gia chương trình quảng bá này. Chương trình quảng bá được thực hiện trong và cả bên ngoài EU;
- Các tiêu chuẩn riêng do các tập đoàn bán lẻ đề ra về kích cở, mầu sắc, phân loại ...
Rào cản áp dụng riêng đối với từng loại sản phẩm cụ thể khác nhau:
2.1.1- Gạo
- Sản xuất: Diện tích trồng lúa tại EU tương đối ổn định từ 2004 – 2009 giao động trong khoảng từ 413 - 428 ngàn ha, sản lượng tại EU27 niên vụ 2007/2008 đạt 1,68 triệu tấn và sản lượng từ niên vụ 2004/2005 đến niên vụ 2007/2008 giảm 178 ngàn tấn.
 
- Tiêu thụ: mức tiêu thụ tính chung dành cho sản xuất công nghiệp và tiêu thụ tư nhân của EU25 trong khoảng 2,3 - 2,4 triệu tấn/năm, và khoảng 2,5 triệu tấn/năm đối với EU27.
- Nhập khẩu: mức nhập khẩu gạo trong năm 2008-2009 tăng 33% cao hơn mức nhập khẩu các năm trước. EU nhập khẩu gạo chủ yếu từ Ấn Độ, Pakistan (gạo Basmati), Hoa Kỳ (gạo đánh bóng) và Thái Lan (gạo đã xay tách vỏ).
- Rào cản áp dụng:  hạn ngạch, thuế tuyệt đối, giấy phép nhập khẩu, xuất xứ.
--Thuế nhập khẩu  (thuế tuyệt đối)
Loại gạo
mức cao nhất
(€/t)
mức áp dụng
(€/t)
Lúa (không bị giới hạn bởi Hiệp định)
211
211
Gạo đã xay, tách vỏ
65
30 - 42,5 - 65
Gạo đánh bóng hoặc bán đánh bóng
175
145 - 175
Gạo tấm
128
65
Gạo Basmati
--
--
-- Hiệp định về hạn ngạch và thuế nhập khẩu gạo ký với các đối tác:
--- Hiệp định với Ấn Độ và Pakistancó hiệu lực từ 9/2009 đối với loại gạo Basmati (đã xát vỏ) với mức thuế suất bằng 0%:  chỉ định 9 công ty đầu mối (4 của Pakistan và 5 của Ấn độ kể cả 3 công ty liên doanh Pakistaan-Ấn Độ) và phải có giấy chứng nhận xuất xứ do cơ quan có thẩm quyền nhà nước cấp.
--- Hiệp định ký với Hoa kỳ từ năm 2005, phương pháp tính thuế theo nguyên tắc “tối huệ quốc (MFN)” và có điều khoản truy hoàn thuế đối với gạo đã xát vỏ: mức hạn ngạch nhập khẩu 431 678 tấn/năm với mức tăng trưởng hàng năm là 10% (tương đương 6.000 tấn) và có điều khoản tham vấn đối với mức tăng hàng năm; nếu lượng xuất khẩu thấp hơn 15% mức hạn ngạch thì áp dụng mức thuế nhập khẩu cho 6 tháng tiếp theo là 30euro/tấn, nếu vượt mức hạn ngạch 15% mức thuế là 65euro/tấn và nếu mức nhập khẩu trong khoảng -15% đến 15% thì mức thuế áp dụng là 42,5 euro/tấn. Mức thuế nhập khẩu sẽ được xem xét điều chỉnh 2 năm/lần theo hướng lượng xuất khẩu tăng thì mức thuế sẽ tăng theo và ngược lại. Áp dụng chế độ cấp giấy phép nhập  khẩu.
--- Hiệp định ký với Thái Lan năm 2005, phương pháp tính thuế theo nguyên tắc “tối huệ quốc (MFN)” và có điều khoản truy hoàn thuế đối với gạo đã xát vỏ và gạo bán xát vỏ. Về cơ bản tương tự như Hiệp định ký với Hoa Kỳ, nhưng đơn giản hơn: mức hạn ngạch nhập khẩu hàng năm là 337.168 tấn, với mức tăng trưởng hàng năm là 10%, nếu lượng nhập khẩu không vượt mức hạn ngạch sẽ áp dụng mức thuế 145 euro/tấn, nếu vượt quá 15% mức hạn ngạch mức thuế là 175 euro/tấn, ngoài ra Thái lan còn được xuất khẩu số lượng 13.500 tấn/năm với mức thuế bằng 0%. Lượng hạn ngạch đối với gạo tấm là 100 ngàn tấn với mức thuế suất nhập khẩu là 65%, áp dụng chế độ cấp giấy phép nhập khẩu.
2.1.2-Nhóm sản phẩm động vật và sản phẩm thịt:
- Các rào cản EU đang áp dụng chung nêu trên và:
- Quy định về kiểm soát tình hình dịch bệnh trong nước xuất khẩu, đảm bảo an toàn vệ sinh động vật. Nước xuất khẩu phải là thành viên của Tổ chức thế giới về sức khỏe động vật (OIE) và phải thực hiện theo quy định về kiểm soát, cập nhật thông tin về  tình hình dịch bệnh, sức khỏe động vật trong nước.
- Quy định về cập nhật thông tin về sức khỏe động vật đối với lô hàng xuất khẩu vào EU (khuyến khích việc cập nhật thông qua internet theo chương trình TRACE)
- Quy định về kiểm soát về dư lượng kháng sinh, chất gây bệnh, chất phụ gia trong thuốc thú y và thức ăn gia súc tại nước xuất khẩu và tại EU, thực hiện chương trình nhà máy chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tốt (GM Food and Feed)...
- Quy định về kiểm tra vi sinh (nguồn gây bệnh, đặc biệt là khuẩn samonella, listeria);
- Quy định về tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm (SPS)/TBT từ cơ sở chế biến đến tay người tiêu dùng. Các cơ sở chế biến của nước xuất khẩu  phải được EU kiểm tra và công nhận theo nguyên tắc HACCP. Quy định về cơ sở chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tốt (GM Food and Feed)
- Quy định về kiểm tra thú y và sản phẩm động vật tại cửa khẩu nhập khẩu. Động vật sống và sản phẩm thịt chế biến có xuất xứ chỉ được nhập khẩu vào EU sau khi đã được kiểm tra tại cửa khẩu - BIP (Veterinary Border Inspection Ports). Riêng về việc kiểm tra tại cửa khẩu, có khoảng 16 quyết định, chỉ thị, quy định, hướng dẫn khác nhau;
- Quy định về cấp giấy phép nhập khẩu và lưu thông tại EU (Common Veterinary Entry Document –CVED);
- Quy định về hàng quá cảnh....
2.1.3- Gia cầm và sản phẩm gia cầm
-         Cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu trong trường hợp cần thiết,
-         Áp dụng mức thuế nhập khẩu ở mức cao, trong trường hợp hàng nhập khẩu có nguy cơ đe dọa thị trường nội khối, có thể áp dụng mức thuế phụ thu.
-         Hạn ngạch thuế quan theo nguyên tắc “đến trước, được trước”
-         Trong trường hợp giá cả tăng đột biến, có thể áp dụng các biện pháp thích ứng trên cơ sở tham vấn giữa Hội đồng, Ủy ban và  Quốc hội.
-         Hoàn thuế xuất khẩu để khuyến khích xuất khẩu.
-         Có thể áp dụng các biện pháp phòng vệ trong những trường hợp có nguy cơ gây tác động xấu đến xuất khẩu và nhập khẩu,
-         Trợ cấp nhà nước trong trường hợp có dịch bệnh,
-         Quy định định giá tối thiểu;
-         Các rào cản khác ...
2.1.4- Rau và hoa tươi (thuộc nhóm mã số HS 0601, 0602, 0603 và 0604)
i) Tiêu chuẩn SPS: các yêu cầu về sức khỏe cây trồng, truy xuất nguồn gốc, khoanh vùng cây tránh nhiễm bệnh, quản lý loại bệnh, xử lý nguy cơ mầm bệnh, đánh giá rủi ro và nguy cơ lây nhiễm, cấp phép về chất lượng sức khỏe cây trồng (tại nước xuất khẩu và nước nhập khẩu), kiểm tra vệ sinh an toàn cây trồng,...;
ii) Tiêu chuẩn TBT: quy định về tiếp thị bán hàng,  quy định tiêu chuẩn riêng biệt, quy định về bao bì, nhãn – mác, cách trình bầy, quy định về dư lượng kháng sinh, chất độc hại, các quy định về biến đổi gien, ...
iii)  Các tiêu chuẩn về môi trường, điều kiện lao động ... 
iv)  Các tiêu chuẩn riêng của các tập đoàn, siêu thị của EU (kích cỡ, phân loại, yêu cầu về chất lượng tối thiểu ...);
iv)  Thủ tục hải quan;
v) các tiêu chuẩn khác ...
Kể từ ngày 01/7/ 2009, Quy định số 1221/2008 (sẽ sớm được bổ sung vào CMO) về bãi bỏ các tiêu chuẩn tiếp thị, bán hàng (marketing Standard) hiện tại đối với 26 sản phẩm: mơ, atisô, măng tây, cà tím, lê, đậu, cải bắp, cà rốt , hoa lơ, cần tây, bí xanh, dưa chuột, trồng nấm, tỏi, quả hạch, bắp cải, tỏi tây, dưa hấu, hành tây, đậu Hà Lan, mận, cần tây có gân, rau bina, quả óc chó, nước dưa hấu và rau diếp xoăn và đồng thời đưa ra các tiêu chuẩn mới áp dụng chung đối với tất cả các loại rau và trái cây tươi (trừ 10 loại trái cây và rau quả vẫn thực hiện theo tiêu chuẩn marketing cũ là: táo, cam chanh quả, quả kiwi, lettuces, đào và quả xuân đào, lê, dâu tây, ớt ngọt, nho và cà chua).
Các loại rào cản về thuế đối với rau, quả tươi gồm: áp đặt khung giá nhập khẩu tối thiểu để tính thuế, thuế môi trường, thuế VAT, phí giám định ...
2.1.5- Mặt hàng cà phê:
EU là khu vực không trồng cà phê, tuy nhiên lại là thị trường tiêu thụ lớn cà phê và có nhiều công ty chế biến cà phê với các thương hiệu nổi tiếng khác nhau. Chính vì vậy chính sách của EU là khuyến khích nhập khẩu cà phê nguyên liệu và hạn chế nhập khẩu đối với cà phê chế biến.
Đối với mặt hàng café chế biến, EU quy định mức hạn ngạch nhập khẩu (Cà phê chế biến thuộc danh mục hàng hạn chế nhập khẩu[5]), và mức thuế suất thuế nhập khẩu cao gấp nhiều lần so với cà phê nguyên liệu, ngoài ra còn áp dụng thuế phụ thu, thuế VAT áp dụng đối với đối với từng loại sản phẩm khác nhau và thực hiện kiểm soát chất lượng, chất độc hại, gây nghiện đối với cà phê hòa tan và phương pháp xử lý hương vị cà phê chế biến ...
Ngoài ra còn áp dụng kiểm tra chặt chẽ về dịch bệch, kiểm soát các chất gây nghiện và chất độc hại khác (Quy định số 466/2001 về thực hiện kiểm soát chất lượng, chất độc hại, gây nghiện đối với cà phê hòa tan và phương pháp xử lý hương vị cà phê chế biến...) gây ảnh hưởng tới sức khỏe và các tiêu chí ảnh hưởng tới môi trường và điều kiện lao động.
2.3-         Rào cản áp dụng đối với thủy sản
EU là thị trường có nhu cầu nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người là 22 kg/người/năm (mức trung bình của thế giới là 16,1kg/người/năm). Ngành công nghiệp đánh bắt cá của EU chỉ đáp ứng 60% nhu cầu tiêu dùng trong nước. Hàng năm EU phải nhập khẩu khoảng 16 tỷ euro cá và sản phẩm cá hàng năm để phục vụ cho công nghiệp trong nước (chế biến để tái xuất khẩu với giá trị gia tăng) và tiêu dùng trong nước. Cá nuôi trồng nước ngọt chiếm 20% sản lượng cá, với 65 ngàn lao động và kim ngạch hơn 3 tỷ euro/năm.
Phi lê cá tra, ba sa, tôm đông lạnh và nhuyễn thể hai mảnh vỏ là các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt nam xuất khẩu sang thị trường EU và chiếm thị phần tương đối lớn: phi lê cá tra- ba sa xếp thứ 1 và tôm sú đông lạnh xếp thứ 4 trong số các nước xuất khẩu vào EU. Kim ngạch mặt hàng thủy sản chế biến đang có xu hướng tăng dần. Các nhóm sản phẩm này hầu hết xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô nên không bị giới hạn về hạn ngạch, thuế suất thuế nhập khẩu, song những quy định về quản lý và giám sát chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường, nhãn mác ... là những trở ngại chính.
Rào cản chung:
-         Thuế GSP, chống bán phá giá ;
-         Hạn ngạch thuế quan tự quản (Autonomous Tariff Quota – ATQ) đối với một số sản phẩm theo mức thuế ưu đãi từ 0-4-6%;
-         Quy định SPS/TBT theo tiêu chuẩn HACCP (Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP));
-         Giám sát và kiểm tra chất lượng nhập khẩu;
-         Cấp phép nhập khẩu;
-         Nhãn mác môi trường.
-         Các quy định của các tập đoàn bán lẻ (private food standards của các tập đoàn bán lẻ về tiêu chuẩn EurepGAP)
Một số rào cản cụ thể mới:
- EU đang dự thảo chỉnh sửa chính sách thủy sản (Common Fisheries Policy), dự kiến sẽ được hoàn tất dự kiến vào năm 2013, theo hướng các thông tin (về sản phẩm, phương thức sản xuất và xuất xứ), kiểm soát, và điều kiện bảo vệ môi trường thiên nhiên cần được bổ sung đầy đủ hơn, giám sát chặt chẽ hơn.... 
- Chính sách bảo vệ môi trường biển. Chỉ thị số 2008/56/EC ngày 17/6/2008 về quản lý đánh bắt cá bằng các thiết bị thân thiện với môi trường, theo đó hạn chế số lượng đánh bắt cá, để giảm tác động lớn hơn đến môi trường biển, bảo vệ các các loài thủy sản, do việc đánh cá hủy diệt gây ra, nâng cao  nhận thức về bảo vệ môi trường biển. 
- Ngày 25/8/2010, Liên minh nuôi trồng thủy sản toàn cầu (Global Aquaculture Alliance) đã thông báo về việc hoàn thành quy định về thực tiễn tốt (Best Aquaculture Practice - BAP) đối với thuỷ sản làm tiêu chuẩn cho việc chứng nhận các trại nuôi cá tra. Chương trình BAP là một chương trình toàn diện dựa trên số liệu chứng nhận nuôi trồng thuỷ sản, cả trang trại và nhà máy chế biến, bao gồm các tiêu chuẩn về trách nhiệm môi trường và xã hội, quyền lao động, phúc lợi động vật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. tiêu chuẩn BAP cũng đã được phát triển cho tôm, cá rô phi và kênh trang trại nuôi cá da trơn, trại và nhà máy chế biến. BAP cũng yêu cầu về bảo tồn đa dạng sinh học, đất và quản lý nước, và quản lý thuốc và hóa chất, giám sát chất lượng nước và nước thải...
- Quy định IUU(Illegal, Unreported and Unregulated) và ảnh hưởng đến Việt nam (Các văn bản pháp quy số:  1005/2008, 1010/2009, 86/2010 và 468/2010):
Chính sách mới (IUU) có hiệu lực thực hiện từ 1/1/2010, về chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định.Các sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào EU phải có giấy chứng nhận đánh bắt. Cơ quan chức năng của nước có tàu đánh bắt phải xác nhận rằng thủy sản đánh bắt được trên tàu là phù hợp với quy định của pháp luật và các quy định quốc tế về quản lý và bảo tồn nguồn lợi thủy sản (trừ cá nước ngọt, cá cảnh và một số loại thân mềm như sò, hàu, trai sông…)
Tác động của IUU đối với Việt nam: việc đăng ký, đăng kiểm tầu cá, quản lý  khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản cũng như việc kiểm tra hoạt động, ghi nhật ký khai thác, gắn thiết bị định vị vệ tinhvà kiểm soát ngư trường khai thác ... gặp nhiều khó khăn cả về nhân lực và tài chính, trong khi đó tập quán mua nguyên liệu trực tiếp từ các tầu cá, từ thương lái gây khó khăn cho việc cấp giấy chứng nhận nguồn gốc và xuất xứ và tăng chi phí của ngư dân, cơ sở sản xuất...

Nguồn: Tin tham khảo