Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hồng Kông tháng 3/2010 đạt 110 triệu USD, tăng 30,8% so với tháng 2/2010 và tăng 39% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hồng Kông quý I/2010 đạt 302 triệu USD, tăng 68,6% so với cùng kỳ, chiếm 2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước quý I/2010.

Sắt thép các loại tuy là mặt hàng đứng thứ 8/23 trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hồng Kông quý I/2010 nhưng có tốc độ tăng trưởng vượt bậc, đạt 6,3 triệu USD, tăng 3.802,2% so với cùng kỳ, chiếm 2% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc đạt 6,9 triệu USD, tăng 1.960,1% so với cùng kỳ, chiếm 2,3% trong tổng kim ngạch.

Bên cạnh đó là một số mặt hàng xuất khẩu sang Hồng Kông quý I/2010 có tốc độ tăng trưởng mạnh: gạo đạt 6,6 triệu USD, tăng 483,9% so với cùng kỳ, chiếm 2,2% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là xăng dầu các loại đạt 633,5 nghìn USD, tăng 171,6% so với cùng kỳ, chiếm 0,2% trong tổng kim ngạch; sản phẩm từ chất dẻo đạt 2,5 triệu USD, tăng 168,5% so với cùng kỳ, chiếm 0,8% trong tổng kim ngạch; sau cùng là sản phẩm từ cao su đạt 989 nghìn USD, tăng 161,9% so với cùng kỳ, chiếm 0,3% trong tổng kim ngạch.

Trong quý I/2010, một số mặt hàng xuất khẩu sang Hồng Kông có tốc độ suy giảm: sản phẩm từ sắt thép đứng cuối cùng trong bảng xếp hạng kim ngạch xuất khẩu, đạt 217 nghìn USD, giảm 80,3% so với cùng kỳ, chiếm 0,07% trong tổng kim ngạch; đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt 1,6 triệu USD, giảm 43,8% so với cùng kỳ, chiếm 0,54% trong tổng kim ngạch; sản phẩm hoá chất đạt 1 triệu USD, giảm 38,6% so với cùng kỳ, chiếm 0,36% trong tổng kim ngạch; sau cùng là giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 1 triệu USD, giảm 32,7% so với cùng kỳ, chiếm 0,34% trong tổng kim ngạch…

Dẫn đầu mặt hàng về kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hồng Kông quý I/2010 là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, đạt 41,5 triệu USD, tăng 82% so với cùng kỳ, chiếm 13,7% trong tổng kim ngạch; thứ hai, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 38,8 triệu USD, tăng 79,9% so với cùng kỳ, chiếm 12,8% trong tổng kim ngạch; thứ ba, hàng thuỷ sản đạt 19,5 triệu USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ, chiếm 6,5% trong tổng kim ngạch; sau cùng là giày dép các loại đạt 10,6 triệu USD, giảm 0,1% so với cùng kỳ, chiếm 3,5% trong tổng kim ngạch.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hồng Kông quý I/2010

 

Mặt hàng

Kim ngạch XK quý I/2009 (USD)

Kim ngạch XK quý I/2010 (USD)

% tăng, giảm KN so với cùng kỳ

Tổng

179.307.438

302.231.169

+ 68,6

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

22.766.713

41.450.937

+ 82

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

21.573.349

38.807.489

+ 79,9

Hàng thuỷ sản

18.203.622

19.530.985

+ 7,3

Giày dép các loại

10.633.385

10.624.110

- 0,1

Hàng dệt, may

8.759.333

8.295.479

- 5,3

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

336.420

6.930.590

+ 1.960,1

Gạo

1.130.610

6.601.296

+ 483,9

Sắt thép các loại

161.404

6.298.273

+ 3.802,2

Gỗ và sản phẩm gỗ

1.988.487

4.640.865

+ 133,4

Dây điện và dây cáp điện

2.870.492

3.239.547

+ 12,9

Sản phẩm từ chất dẻo

923.453

2.479.786

+ 168,5

Túi xách, ví, va li, mũ và ô dù

2.427.886

2.416.960

- 0,5

Hạt điều

1.059.649

1.891.592

+ 78,5

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

2.882.865

1.620.963

- 43,8

Sản phẩm hoá chất

1.771.150

1.087.842

- 38,6

Giấy và các sản phẩm từ giấy

1.541.370

1.037.933

- 32,7

Sản phẩm từ cao su

377.541

988.908

+ 161,9

Hàng rau quả

971.764

929.950

- 4,3

Cao su

483.294

873.315

+ 80,7

Xăng dầu các loại

233.218

633.521

+ 171,6

Thuỷ tinh và các sản phẩm từ thuỷ tinh

444.744

526.774

+ 18,4

Chất dẻo nguyên liệu

264.326

399.713

+ 51,2

Sản phẩm từ sắt thép

1.102.860

217.471

- 80,3

 

Nguồn: Vinanet