EC huỷ bỏ việc xem xét thuế chống bán phá giá gỗ dán Trung Quốc
Uỷ ban châu Âu (EC) thông báo đã huỷ bỏ việc xem xét tạm thời từng phần liên quan tới các biện pháp chống bán phá giá ván gỗ trám hồng nhập khẩu từ Trung Quốc.
Quyết định huỷ bỏ trên được đưa ra sau khi phía nguyên đơn rút lại đề nghị xem xét nhằm mở rộng các biện pháp chống bán phá giá hiện hành sang nhiều loại sản phẩm ván gỗ nhập khẩu từ Trung Quốc. Nhưng quyết định đó không chống lại lợi ích của Liên minh châu Âu (EU).
EU đã áp thuế bán phá giá đánh vào ván gỗ trám hồng nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2004 với các biểu thuế dao động từ 6,5% cho tới 66,7% đối với các công ty khác nhau.
Đến tháng 4/06 Liên đoàn Ngành Ván ép châu Âu (EFPI) đã gửi đề nghị lên Uỷ ban yêu cầu xem xét tạm thời từng phần các biện pháp bán phá giá nhằm đưa thêm một số sản phẩm vào diện bị áp thuế bán phá giá. Tuy nhiên, đến tháng 12 năm ngoái EFPI đã rút lại đề nghị này.
Xuất khẩu dầu cọ của Malaysia tăng 45,5% trong năm 2007
Theo số liệu thống kê của Bộ Công nghiệp và Thương mại Quốc tế Malaysia, xuất khẩu dầu cọ của Malaysia trong năm vừa qua đạt 37,4 tỷ ringgit (11,37 tỷ USD), tăng 45,5% so với năm trước đó, chủ yếu nhờ giá dầu cọ thô trên thế giới tăng mạnh.
Giá dầu cọ thô trong năm 2007 đạt trung bình 2.453,21 ringgit (743,4 USD)/tấn, so với mức trung bình 1.504,38 ringgit (455,87 USD)/tấn của năm 2006, như vậy chỉ trong vòng 1 năm, giá đã tăng tới 63,1%.
Hiện tại, Malaysia cùng với Indonesia là hai nhà sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới. Dầu cọ còn là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai của Malaysia, sau đồ điện và đồ điện tử.
Ngoài ra, hằng năm Malaysia còn nhập khẩu dầu cọ từ Indonesia, Thái Lan, Singapore và Papue New Guinea. Trong năm 2007, Malaysia đã nhập khẩu tổng cộng 2 tỷ ringgit (606,06 tỷ USD) dầu cọ, tăng 21,8% so với năm 2006.
Nông dân Indonesia thiệt hại 5,4 nghìn tỉ Rp do thuế nhập khẩu gạo giảm
Thu nhập của nông dân Indonesia sẽ giảm đến 5,4 nghìn tỉ Rp bởi quyết định giảm 100 Rp/kg thuế nhập khẩu gạo của chính phủ, do biện pháp này sẽ khiến hạ giá bán thóc của nông dân.
Rachmad Pambudy, tổng thư ký của Hiệp hội Cộng đồng Nông dân Indonesia (HKTI), cho biết nếu sản lượng thóc của quốc gia đạt 54 triệu tấn, với thuế nhập khẩu gạo giảm 100 Rp/kg, thu nhập của nông dân từ doanh thu thóc sẽ giảm 5,4 nghìn tỉ Rp.
Ngoài ra, việc nhập khẩu 1 triệu tấn gạo có thể khiến 5 triệu nông dân bị mất việc làm.
Gần đây chính phủ đã giảm thuế gạo nhập khẩu từ 550 Rp/kg xuống 450 Rp/kg.
Trong khi Indonesia giảm thuế nhập khẩu gạo, các quốc gia sản xuất gạo khác lại tăng thuế nhằm bảo vệ nông dân và gia tăng sản lượng. Những quốc gia như Hoa Kỳ, Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ cũng như Nhật Bản đã tăng 50% thuế nhập khẩu gạo lên 300%.
Nhập khẩu thịt lợn của Philippine năm 2007 tăng 43%
Nhập khẩu thịt lợn và các sản phẩm thịt lợn vào Philippine năm 2007 đã tăng 43%, gồm cả mỡ và da để dùng trong chế biến thực phẩm. Phần lớn thịt lợn nhập khẩu từ Canada (32%), Đức (16%) và Mỹ (13%).
Sản lượng thịt lợn Philippine đã tăng 2,72% trong năm 2007 và 3,66% năm 2006. Dự báo sản lượng thịt lợn sẽ tăng trong năm 2008.
Tiêu thụ thịt lợn trung bình người ở Philippine là 13,88 kg/năm, tăng 1,39% so với năm 2006. Philippine có 90 triệu dân và tỷ lệ tăng dân số là 2,36%/năm.
Năm 2007: Eurozone thặng dư thương mại trên 28 tỷ euro
Số liệu của cơ quan thống kê Liên minh châu Âu (EU) Eurostat cho thấy, các nước khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) đạt thặng dư thương mại 28,3 tỷ euro (41,5 tỷ USD) năm 2007, bất chấp đồng euro lên giá kỷ lục.
Mức thặng dư thương mại trên đánh dấu một tiến bộ đáng kể so với năm 2006, khi cán cân thương mại của khu vực này thâm hụt tới 9,3 tỷ euro.
Đáng kể hơn là kết quả này có được trong bối cảnh đồng euro tăng giá mạnh mẽ trên các thị trường tiền tệ, đạt mức đỉnh điểm 1,4967 USD/euro hôm 23/11/07.
Tuy nhiên, riêng trong tháng 12/07, Eurozone chịu mức thâm hụt thương mại 4,2 tỷ euro, giảm mạnh so với mức thặng dư 3,0 tỷ euro trong tháng 11 và 2,4 tỷ euro trong tháng 12/06.
Trong khi đó, cũng theo Eurostat, 27 nước thành viên EU có mức thâm hụt thương mại 185,7 tỷ euro trong năm 2007, so với mức thâm hụt 192,1 tỷ euro năm 2006.
Thủy sản Mỹ được nhập khẩu vào Trung Quốc để chế biến và tái xuất sang Mỹ
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, nhiều nhà chế biến và công ty thủy sản của Mỹ đã xuất hàng sang chế biến tại Trung Quốc và 90% khối lượng thủy sản này của Mỹ sau khi chế biến tại Trung Quốc được xuất khẩu trở lại cho thị trường Mỹ, chỉ một phần nhỏ thuỷ sản nhập khẩu từ Mỹ là được giữ lại để tiêu thụ ở Trung Quốc.
Mặc dù Trung Quốc là nhà nhập khẩu lớn nhất của thủy sản Mỹ, nhưng phần lớn nhập khẩu thủy sản của Mỹ cũng lại xuất phát từ Trung Quốc.
Giá trị thương mại từ nhập khẩu nguyên liệu để chế biến và tái xuất chiếm đến 40% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc, thành công trong chế biến sản phẩm GTGT từ các nguồn nguyên liệu thủy sản của Mỹ và của các nước khác ở Trung Quốc là nhờ có nguồn lao động rẻ dồi dào và tỷ lệ thu hồi sản phẩm cao.
Phần lớn thủy sản có xuất xứ từ Mỹ này lại được xuất trở lại cho Mỹ phục vụ tiêu dùng trong nước. Người Trung Quốc ưa chuộng các thủy sản tươi, sống hơn các loại sản phẩm đông lạnh. Hơn nữa, phần lớn người dân Trung Quốc không có khă năng mua thủy sản của Mỹ với giá đắt hơn khoảng 10% so với giá thủy sản của Đại lục, nhất là tại các khu vực nhà hàng, khách sạn..
Xuất khẩu nông, lâm và thủy sản của Trung Quốc sang Mỹ chiếm 28% tổng nhập khẩu của Mỹ trong năm 2006. Dự đoán, đến năm 2009, ngành nông nghiệp sẽ đạt lợi nhuận 5 tỷ USD, nhờ một phần vào tăng cường phát triển chế biến phục vụ cho xuất khẩu.