Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hà Lan tháng 4/2010 đạt 116 triệu USD, giảm 7,2% so với tháng 3/2010 và giảm 2,4% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hà Lan 4 tháng đầu năm 2010 đạt 441 triệu USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ, chiếm 2,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước 4 tháng đầu năm 2010.

Hoá chất mặc dù là mặt hàng đứng thứ 18/23 trong bảng xếp hàng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hà Lan 4 tháng đầu năm 2010, đạt 740 nghìn USD, tăng 2.532,6% so với cùng kỳ, chiếm 0,17% trong tổng kim ngạch.

Bên cạnh đó là một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hà Lan 4 tháng đầu năm có tốc độ tăng trưởng mạnh: thứ nhất, sản phẩm hoá chất đạt 649 nghìn USD, tăng 537,5% so với cùng kỳ, chiếm 0,15% trong tổng kim ngạch; thứ hai, đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt 531 nghìn USD, tăng 211,6% so với cùng kỳ, chiếm 0,1% trong tổng kim ngạch; thứ ba, hàng rau quả đạt 8,7 triệu USD, tăng 126,7% so với cùng kỳ, chiếm 2% trong tổng kim ngạch ; thứ tư, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 15,5 triệu USD, tăng 125,2% so với cùng kỳ, chiếm 3,5% trong tổng kim ngạch; sau cùng là sản phẩm mây, tre, cói và thảm đạt 3 triệu USD, tăng 72,2% so với cùng kỳ, chiếm 0,7% trong tổng kim ngạch.

Trong 4 tháng đầu năm 2010, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hà Lan có độ suy giảm: Cà phê đạt 13 triệu USD, giảm 60,5% so với cùng kỳ, chiếm 3% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là sản phẩm gốm, sứ đạt 3 triệu USD, giảm 39% so với cùng kỳ, chiếm 0,73% trong tổng kim ngạch; bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc đạt 597,6 nghìn USD, giảm 38,8% so với cùng kỳ, chiếm 0,1% trong tổng kim ngạch; sau cùng là gạo đạt 191 nghìn USD, giảm 36% so với cùng kỳ, chiếm 0,04% trong tổng kim ngạch.

Giày dép các loại là mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hà Lan 4 tháng đầu năm 2010, đạt 73 triệu USD, giảm 25% so với cùng kỳ, chiếm 16,6% trong tổng kim ngạch; thứ hai, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 68,6 triệu USD, tăng 52,8% so với cùng kỳ, chiếm 15,6% trong tổng kim ngạch; thứ ba, hàng dệt, may đạt 43 triệu USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ, chiếm 9,8% trong tổng kim ngạch; sau cùng là hạt điều đạt 34,8 triệu USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ, chiếm 7,9% trong tổng kim ngạch.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Hà Lan 4 tháng đầu năm 2010

 

Mặt hàng

Kim ngạch XK 4T/2009 (USD)

Kim ngạch XK 4T/2010 (USD)

% tăng, giảm KN so với cùng kỳ

Tổng

429.347.527

441.289.626

+ 2,8

Giày dép các loại

97.426.050

73.035.769

- 25

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

44.917.158

68.646.395

+ 52,8

Hàng dệt, may

40.055.761

43.076.106

+ 7,5

Hạt điều

29.541.020

34.754.554

+ 17,6

Hàng thuỷ sản

26.994.807

34.658.651

+ 28,4

Gỗ và sản phẩm gỗ

28.304.672

24.618.619

- 13

Phương tiện vận tải và phụ tùng

20.273.301

18.174.933

- 10,4

Sản phẩm từ chất dẻo

16.411.353

17.561.162

+ 7

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

6.875.828

15.484.797

+ 125,2

Cà phê

34.026.919

13.445.524

- 60,5

Than đá

 

10.049.213

 

Hàng rau quả

3.832.833

8.690.131

+ 126,7

Sản phẩm từ sắt thép

8.978.662

8.208.086

- 8,6

Hạt tiêu

6.831.522

8.015.617

+ 17,3

Túi xách, ví, va li, mũ và ô dù

9.100.192

7.436.158

- 18,3

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

1.879.376

3.235.968

+ 72,2

Sản phẩm gốm, sứ

5.291.013

3.227.347

- 39

Hoá chất

28.132

740.600

+ 2.532,6

Sản phẩm hoá chất

101.885

649.516

+ 537,5

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

975.782

597.641

- 38,8

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

170.434

531.053

+ 211,6

Sản phẩm từ cao su

357.573

366.802

+ 2,6

Gạo

298.661

191.000

- 36

Nguồn: Vinanet