Theo nhận định của Vụ châu Á – Thái Bình Dương (Bộ Công Thương), kim ngạch thương mại Việt Nam – Trung Quốc đã có sự tăng trưởng vượt trội trong vòng hơn 10 năm qua, từ trên 32 triệu USD năm 1991 lên 10,4 tỉ USD năm 2006. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 3,2 tỉ USD, tăng 5,6% so với năm trước. Dự kiến, xuất khẩu năm 2008 đạt 4 tỉ USD, tăng 25% so với năm 2007. Thị trường này hiện chiếm khoảng 6,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Mậu dịch biên giới phát triển mạnh
Phát huy lợi thế có chung đường biên giới, trong những năm qua, 7 tỉnh biên giới Việt Nam là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và 2 tỉnh biên giới Trung Quốc là Quảng Tây và Vân Nam đã chủ động hợp tác phát triển kinh tế. Cụ thể là việc hình thành các khu thương mại, chợ cửa khaủa, khu kinh tế mở, và chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng biên giới như kết nối hệ thống đường sắt, đường bộ, đường không, hệ thống điện, nước và ký kết các thoả thuận hợp tác kinh tế thương mại, góp phần không nhỏ ổn định và cải thiện đời sống nhân dân vùng biên và thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế thương mại hai nước.
Theo đánh giá của Vụ châu Á – Thái Bình Dương, xuất khẩu qua các cửa khẩu Móng Cái, Hữu Nghị, Đồng Đăng chiếm tới 75% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc.
Nhằm phát huy lợi thế và hạn chế những tác động bất lợi của việc buôn bán qua cửa khẩu, góp phần vào việc cân bằng cán cân thương mại giữa hai nước, hàng loạt giải pháp tích cực đang được triển khai. Đáng chú ý là chủ trương đẩy mạnh buôn bán những mặt hàng lớn, trong đó Trung Quốc cung cấp các sản phẩm cơ điện, thiết bị trọn gói và nhập khẩu ổn định các sản phẩm Việt Nam có ưu thế như dầu thô, cao su, cà phê, thuỷ sản. Cùng với đó, hai bên cũng đang xúc tiến việc lập Tổ liên ngành nghiên cứu mặt hàng mới và ký kết Hiệp định kiểm dịch động thực vật, hình thành chuỗi đô thị - cửa khẩu, phát triển tuyến hành lang kinh tế.
Bên cạnh các cuộc gặp gỡ cấp cao giữa hai nhà nước, những năm gần đây, doanh nghiệp hai nước đã dành sự quan tâm đáng kể cho việc tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại thị trường của nhau bằng việc tổ chức nhiều đoàn tham gia các hội chợ, triển lãm, thương mại, hội thảo và xúc tiến đầu tư, thương mại.
Thị trường nhập khẩu số 1 của Việt Nam
Trung Quốc hiện đứng đầu trong số các nước xuất khẩu hàng hoá sang Việt Nam và đứng thứ 3 trong số các nước nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam. Việt Nam là thị trường tiêu thụ các mặt hàng xăng dầu, vải sợi, nguyên phụ liệu dệt may, máy móc thiết bị, phân bón, hoá chất, sắt thép các loại của Trung Quốc, đồng thời xuất sang thị trường này nguyên liệu dầu thô, cao su, than đá, các nhóm hàng nông sản như thuỷ hải sản, rau quả, hạt điều, dầu thực vật, nhóm hàng công nghiệp như các sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa.
Số liệu thống kê năm 2006 của Hải quan Trung Quốc (theo Quốc tế Thương báo, Trung Quốc, ngày 31/1/2007) chot hấy mức thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh. Năm 2006, Việt Nam xuất sang Trung Quốc 2,486 tỉ USD, giảm 2,6% so với năm 2005, trong khi đó Trung Quốc xuất sang Việt Nam 7,465 tỉ USD, tăng 32,3%. Như vậy, mức thâm hụt thương mại là 4,979 tỉ USD, bằng 200% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc. Số liệu của Hải quan Việt Nam cho thấy, Việt Nam nhập của Trung Quốc 7,391 tỉ USD (thấp hơn số liệu của Trung Quốc 74 triệu USD) và xuất sang Trung Quốc 3,030 tỉ USD (cao hơn 544 triệu USD).
Tình trạng thâm hụt thương mại này có thể tiếp diễn đến mức độ nào và tác động nhiều mặt như thế nào tới nền kinh tế Việt Nam (về cán cân thanh toán quốc tế, nhất là cán cân vãng lai, việc làm và thu nhập của lao động Việt Nam...)? Như chúng ta đã biết, vào WTO là chấp nhận cạnh tranh bình đẳng và cả thế giới đều rất khó cạnh tranh với hàng loạt sản phẩm có lợi thế của Trung Quốc như dệt may, da giày, hàng điện tử dân dụng... Trước đây, chúng ta đã thu được những kinh nghiệm có ích trong cạnh tranh với một số hàng hoá từ Trung Quốc như bia Vạn Lực, gốm, sứ, hàng may mặc, xe máy... Chính sức ép cạnh tranh của các sản phẩm từ Trung Quốc đã buộc các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, giảm giá thành. Sau một thời gian chao đảo, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã khôi phục được thị phần về bia, đồ sứ, xe máy, trong khi về dệt may đã có sự phân khúc thị trường rõ ràng đối với hàng dệt may Trung Quốc và hàng dệt may Việt Nam trên thị trường nước ta cũng như một số nước khác.
Nguyên nhân sâu xa của tình hình này là do cơ cấu của hai nền kinh tế tương tự nhau nhưng Trung Quốc đã tiến xa hơn trong quá trình công nghiệp hoá và năng lực cạnh tranh của Trung Quốc cũng cao hơn Việt Nam. Bên cạnh đó, nhu cầu và những nét tương đồng về tiêu dùng, văn hoá cũng dẫn đến việc nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc tăng mạnh. Do có nhiều sản phẩm tương tự như Việt Nam nên việc vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với hàng hoá Trung Quốc trở nên một yêu cầu không tránh khỏi đối với rất nhiều sản phẩm của Việt Nam.
Các doanh nghiệp Việt Nam cần biết chấp nhận cạnh tranh, phải học tập các doanh nghiệp Trung Quốc, hợp tác với họ trên từng công đoạn, từng khâu chế tác, từng phân khúc thị trường. Những công đoạn nào có thể hợp tác, nên triển khai việc hợp tác trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tránh việc bán nguyên liệu thô, rất kém hiệu quả. Nếu không cạnh tranh được về giá cả hàng may mặc, doanh nghiệp có thể sản xuất dòng sản phẩm có chất lượng cao hơn, hợp thời trang hơn và duy trì được thị phần ở thành thị trong nước và hướng tới thị trường xuất khẩu khác.
 

Nguồn: Vinanet