Trên thị trường năng lượng, giá dầu ngừng tăng trong bối cảnh nhà đầu tư lo ngại rằng chi phí năng lượng cao có thể làm chệch hướng phục hồi kinh tế toàn cầu.
Kết thúc phiên này, giá dầu Brent biển Bắc giảm 23 US cent xuống 83,42 USD/thùng; phiên 11/10, giá dầu Brent đã chạm mức cao nhất kể từ tháng 10/2018 là 84,60 USD/thùng. Giá dầu thô ngọt nhẹ của Mỹ (WTI) kết thúc phiên vừa qua tăng 12 US ecnt lên 80,64 USD/thùng, sau khi dao động trong khoảng từ 81,62 USD/thùng xuống 79,47 USD/thùng.
Thời gian qua, giá dầu thế giới đã tăng mạnh. Theo đó, giá dầu Brent đã tăng trong tuần thứ năm liên tiếp, còn dầu WTI ghi nhận tuần tăng giá thứ 7, đưa cả 2 loại dầu tăng tổng cộng hơn 15% kể từ đầu tháng 9/2021. Tính từ đầu năm đến nay, giá dầu Brent đã tăng hơn 60%. Nguyên nhân bởi OPEC+ hạn chế nguồn cung đúng thời điểm giá khí đốt tại châu Âu cao kỷ lục khuyến khích một số nhà máy chuyển sang sử dụng dầu để sản xuất điện ở một số nơi.
Giá điện đã tăng lên mức cao kỷ lục trong những tuần gần đây, do tình trạng thiếu hụt tại châu Á và châu Âu, trong đó cuộc khủng hoảng năng lượng ở Trung Quốc dự kiến sẽ kéo dài đến cuối năm, làm giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, đồng thời là nhà xuất khẩu hàng đầu, đồng thời làm chao đảo thị trường trái phiếu và cổ phiếu toàn cầu do lo ngại rằng chi phí năng lượng tăng sẽ gây ra lạm phát.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng kéo dài và sức ép lạm phát đang làm hạn chế sự phục hồi kinh tế toàn cầu sau đại dịch, trong bối cảnh thể chế này hạ dự báo triển vọng tăng trưởng của Mỹ và các cường quốc công nghiệp khác. Trong Triển vọng Kinh tế Thế giới, IMF đã hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2021 từ mức 6%, đưa ra hồi tháng 7/2021 xuống 5,9%, trong khi giữ nguyên dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2022 ở mức 4,9%. Ngay cả khi nhu cầu tăng, Tổ chức các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các nhà sản xuất đồng minh, hay còn gọi là OPEC+, vẫn đang tuân thủ kế hoạch khôi phục sản lượng dần dần thay vì tăng nhanh chóng.
Trên thị trường kim loại quý, giá giá vàng tăng sau khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu cho cả năm 2021 và 2022.
Cuối phiên này, giá vàng giao ngay tăng 0,3% lên 1.759,31 USD/ounce, trong khi vàng giao sau tăng 0,2% lên 1.759,3 USD/ounce.
Giá vàng thế giới có thêm sự hỗ trợ khi Bộ Lao động Mỹ đưa ra báo cáo hôm 12/10 rằng số việc làm của nước này đã giảm 659.000 xuống 10,4 triệu vào ngày cuối cùng của tháng Tám.
Khủng hoảng năng lượng toàn cầu đã đe dọa triển vọng kinh tế và làm gia tăng lo ngại lạm phát, khiến một số nhà đầu tư chuyển sang các tài sản an toàn hơn.
Vàng theo truyền thống được xem như một biện pháp phòng ngừa lạm phát. Tuy nhiên, việc giảm kích thích của ngân hàng trung ương và lãi suất tăng có xu hướng đẩy lợi suất trái phiếu chính phủ tăng dẫn tới chi phí giữ vàng tăng lên.
Theo nhà phân tích Briesemann thuộc Commerzbank nếu các cuộc bàn luận về lạm phát ngày càng nhiều hơn giá vàng có thể đạt mức 1.900 USD/ounce vào cuối năm nay do lãi suất duy trì ở mức khá thấp ngay cả khi Fed bắt đầu cắt giảm kích thích.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 12/2021 giảm 15,1 US cent (0,67%) xuống 22,514 USD/ounce; bạch kim giao tháng 1/2022 tăng 4,8 USD (0,48%) lên 1.011,7 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng giảm do chi phí năng lượng đang tăng làm dấy lên lo ngại rằng sự phục hồi kinh tế toàn cầu có thể trật quỹ đạo, mặc dù các dấu hiệu cho thấy nguồn cung kim loại này đang khan hiếm đã hạn chế đà giảm.
Đồng giao sau 3 tháng trên sàn giao dịch kim loại London (LME) giảm 0,9% xuống 9.458 USD/tấn, kết thúc chuỗi tăng giá 3 ngày liên tiếp. Tháng 5/2021, giá đồng đã tăng lên mức cao kỷ lục tại 10.747,5 USD/tấn do sự phục hồi kinh tế của thế giới bắt đầu chững lại.
Tuy nhiên, theo các nhà phân tích tại JPMorgan việc vận chuyển tắc nghẽn đã khiến tồn kho đồng xuống mức thấp trong lịch sử tại các khu vực sử dụng kim loại này.
Tồn kho đồng tại sàn LME giảm xuống 65.500 tấn từ gần 240.000 tấn trong tháng 8. Dự trữ tại sàn Thượng Hải gần mức thấp nhất trong 12 năm tại 50.062 tấn và hàng tồn kho tại các kho ngoại quan của Trung Quốc giảm gần một nửa kể từ tháng 7.
Giá quặng sắt giảm, với quặng sắt ở Singapore giảm hơn 7% sau 4 phiên tăng trước đó, do các nhà đầu tư lại tập trung chú ý vào việc kiểm soát sản lượng thép tại Trung Quốc.
Trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên, hợp đồng kỳ hạn tháng 1/2022 đóng cửa giảm 0,2% xuống 769,5 CNY (119,26 USD)/tấn. Trong phiên giao dịch có lúc giá đã tăng khoảng 4,3%. Hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 11 trên sàn giao dịch Singapore giảm 7,4% xuống 125,4 USD/tấn.
Sản lượng thép tại Trung Quốc, nhà sản xuất nguyên liệu vật liệu xây dựng lớn nhất thế giới sẽ phải giảm 10% trong khoảng thời gian từ tháng 9 tới tháng 12 để phù hợp với mục tiêu loại bỏ khí carbon. Sản lượng thép thô của Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, bất chấp việc tăng cường kiểm soát sản xuất bắt đầu từ tháng 7.
Với cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu và những dấu hiệu khó khăn trên thị trường bất động sản Trung Quốc ảnh hưởng nặng nề tới tâm lý, thép thanh tại Thượng Hải giảm 4,2%, thép cuộn cán nóng giảm 3,6%. Thép không gỉ giảm 1,9%.
Trên thị trường nông sản, giá đậu tương Mỹ giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 12/2020 sau một báo cáo của chính phủ Mỹ cho thấy sản lượng đậu tương và ngô lớn hơn dự kiến trước đó của các thương nhân.
Hợp đồng đậu tương trên sàn CBOT đóng cửa giảm 30 US cent xuống 11,98-1/4 USD/bushel, sau khi giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 17/12/2020. Bộ Nông nghiệp Mỹ USDA ước tính sản lượng đậu tương niên vụ 2021/22 ở mức 4,448 tỷ bushel và năng suất ở mức 51,5 bushel/mẫu.
Giá ngô cũng giảm sau khi USDA ước tính vụ ngô đang thu hoạch hiện nay và năng suất ngô cao hơn dự kiến. Trên sàn Chicago, giá ngô giảm 10-1/2 US cent xuống 5,22-1/2 USD/bushel, trong khi lúa mì tăng 2-1/4 US cent lên 7,34 USD/bushel.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3 giảm 0,26 US cent hay 1,3% xuống 20,07 US cent/lb; đường trắng kỳ hạn tháng 12 đóng cửa giảm 4,9 USD hay 0,9% xuống 517 USD/tấn.
Các đại lý cho biết đường vẫn được hỗ trợ tốt, do quan điểm cho rằng người tiêu dùng cuối cùng sẽ sớm cần bổ sung dự trữ và việc bán ra của Ấn Độ sẽ chỉ tăng lên khoảng 21 thậm chí 21,5 US cent. Bộ Nông nghiệp Pháp đã nâng ước tính sản lượng củ cải đường, trong khi USDA cũng tăng dự báo sản lượng của Mỹ.
Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12 đóng cửa tăng 8,9 US cent hay 4,4% lên 2,1315 USD/lb, trước đó giá đã đạt 2,1515 USD/lb; cà phê robusta kỳ hạn tháng 11 tăng 45 USD hay 2,1% lên 2.144 USD/tấn.
Các đại lý cho biết có tin đồn rằng vấn đề vận chuyển hàng hóa toàn cầu đã gây ra các kho dự trữ cà phê cạn kiệt dần khi nhu cầu đối với một trong những loại đồ uống được ưa thích trên thế giới vẫn mạnh. Kho dự trữ cà phê arabica trên sàn ICE giảm 11,5% kể từ đầu tháng 9.
Giá cao su Nhật Bản tăng do đồng JPY yếu hơn so với USD thúc đẩy việc mua vào trong khi lo lắng về tồn kho thấp tại Trung Quốc, nước nhập khẩu hàng đầu.
Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 3/2022 trên sàn giao dịch hàng hóa Osaka đóng cửa tăng 0,4 JPY lên 227,2 JPY (2 USD)/kg, sau khi giảm xuống 224,7 JPY trước đó trong phiên này. Giá cao su tại sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giao tháng 1/2022 tăng 70 CNY lên 14.785 CNY (2.291 USD)/tấn.
Lượng cao su lưu kho trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải ở dưới mức trung bình 5 năm tại thời điểm này, điều này đã hỗ trợ giá tăng gần đây tại Nhật Bản và Trung Quốc.
Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

80,74

+0,10

+0,12%

Dầu Brent

USD/thùng

83,55

+0,13

+0,16%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

51.460,00

+120,00

+0,23%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

5,42

-0,09

-1,63%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

238,65

+0,36

+0,15%

Dầu đốt

US cent/gallon

251,36

+0,36

+0,14%

Dầu khí

USD/tấn

727,50

0,00

0,00%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

72.110,00

-80,00

-0,11%

Vàng New York

USD/ounce

1.763,00

+3,70

+0,21%

Vàng TOCOM

JPY/g

6.413,00

+10,00

+0,16%

Bạc New York

USD/ounce

22,62

+0,11

+0,47%

Bạc TOCOM

JPY/g

82,60

-0,20

-0,24%

Bạch kim

USD/ounce

1.012,85

+2,11

+0,21%

Palađi

USD/ounce

2.052,32

+2,99

+0,15%

Đồng New York

US cent/lb

434,50

+1,95

+0,45%

Đồng LME

USD/tấn

9.465,00

-78,00

-0,82%

Nhôm LME

USD/tấn

3.068,00

+4,00

+0,13%

Kẽm LME

USD/tấn

3.263,00

+33,00

+1,02%

Thiếc LME

USD/tấn

36.473,00

+91,00

+0,25%

Ngô

US cent/bushel

523,75

+1,25

+0,24%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

736,25

+2,25

+0,31%

Lúa mạch

US cent/bushel

634,50

-13,50

-2,08%

Gạo thô

USD/cwt

13,68

-0,03

-0,22%

Đậu tương

US cent/bushel

1.205,25

+7,00

+0,58%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,50

+1,50

+0,48%

Dầu đậu tương

US cent/lb

59,26

+0,41

+0,70%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

892,50

+1,70

+0,19%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.675,00

-7,00

-0,26%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

213,15

+8,90

+4,36%

Đường thô

US cent/lb

20,07

-0,26

-1,28%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

127,10

+1,55

+1,23%

Bông

US cent/lb

105,20

-1,18

-1,11%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

730,60

-29,80

-3,92%

Cao su TOCOM

JPY/kg

175,50

+1,30

+0,75%

Ethanol CME

USD/gallon

2,21

0,00

0,00%

 

 

Nguồn: Vinanet/VITIC (Theo Reuters, Bloomberg)