Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), năm 2026, ngành nông nghiệp và môi trường đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước.
Tuy nhiên, tình hình xung đột tại khu vực Trung Đông diễn biến phức tạp đã và đang gây ra những hệ lụy không nhỏ: làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, đẩy chi phí logistics và vật tư đầu vào tăng cao, trực tiếp tác động đến chi phí sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, Bộ NN&MT xác định cần tập trung ổn định sản xuất, bảo đảm nguồn cung vật tư nông nghiệp, giảm chi phí sản xuất và logistics để bảo vệ người sản xuất, duy trì chuỗi xuất khẩu và tăng khả năng tự chủ dài hạn nhằm duy trì sản xuất, tăng cường và quản lý có hiệu quả nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên, đất đai, khoáng sản để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng và xuất khẩu năm 2026.
Theo Bộ NN&MT, để thích ứng hiệu quả với những biến động của môi trường kinh doanh, cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng cần chủ động, linh hoạt trong tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đồng thời chia sẻ khó khăn với người sản xuất trong giai đoạn hiện nay.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh liên kết chuỗi và phát triển thị trường tiêu thụ nội địa, ưu tiên xây dựng các mô hình liên kết chuỗi giá trị bền vững, gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân, góp phần ổn định đầu ra và nâng cao giá trị sản phẩm.
Đặc biệt, các hiệp hội, doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa thị trường và chuyển đổi xanh, tích cực tìm kiếm, mở rộng thị phần tại các thị trường tiềm năng như Đông Á, Nam Á, EU, châu Phi và châu Mỹ Latinh để bù đắp cho các khu vực bị ảnh hưởng bởi xung đột.
Các doanh nghiệp, hiệp hội cũng cần tiếp tục tận dụng hiệu quả các FTA đã ký kết để mở rộng thị phần; tăng cường tham gia hội chợ, kết nối giao thương trực tuyến và phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới.
Bộ NN&MT cũng khuyến khích và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiên phong áp dụng kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp và thích ứng với các quy định mới như EUDR.
Việc đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và phát triển bền vững được xác định là yếu tố quan trọng để nâng cao giá trị thương hiệu nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Trước đó, trước bối cảnh xung đột tại Trung Đông tác động tới ngành nông nghiệp cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản, Bộ NN&MT đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp chung, dài hạn.
Theo đó, Bộ xác định cần nâng cao nhận thức, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới trong toàn ngành để đạt mục tiêu tăng trưởng; hoàn thiện cơ chế, chính sách; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp.
Bên cạnh đó, ngành NN&MT tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại ngành, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp và thủy sản; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp; tăng cường chuyển đổi số; thực hiện đột phá trong ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
Một nhiệm vụ quan trọng được Bộ NN&MT nhấn mạnh là việc thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu.
Trong đó, đối với thị trường xuất khẩu, Bộ NN&MT xác định đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường, đàm phán để tháo gỡ rào cản kỹ thuật, rào cản thương mại và mở cửa xuất khẩu chính ngạch thêm nhiều nông sản vào thị trường truyền thống, các thị trường có tổng kim ngạch xuất khẩu lớn (Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Nga, Brazil, Nhật Bản, Hàn Quốc...).
Đồng thời, mở cửa các thị trường mới, còn nhiều tiềm năng với phương châm đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa thị trường, góp phần từng bước giảm xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới phía Bắc.
Bộ cũng nhấn mạnh cần nâng cao hiệu quả công tác đàm phán, mở cửa thị trường, xúc tiến thương mại, xử lý các vấn đề trong thương mại; xây dựng Bộ tiêu chí phân loại thị trường, xác định chỉ tiêu xuất khẩu theo tiểu ngành, lĩnh vực và thị trường, đặc biệt thị trường còn nhiều tiềm năng.
Đồng thời, xây dựng báo cáo thị trường xuất khẩu nông sản, giải pháp ứng phó đối với những thay đổi liên quan đến thuế, xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật… tại các thị trường Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc; tích cực triển khai chủ động, hiệu quả các FTAs, nhất là CPTPP, EVFTA, các Hiệp định khu vực và song phương với các nước.
Cùng với đó, thực hiện nghiêm việc đáp ứng các quy định về tem nhãn, truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn vùng trồng, kiểm nghiệm, kiểm dịch, quy cách đóng gói, chất lượng, chủng loại nông sản; đăng ký mã cơ sở đóng gói, mã số doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu; chú trọng xây dựng thương hiệu “Nông sản Việt” đối với các sản phẩm nông sản chủ lực của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Kịch bản tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2026-2030
Tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành 3,6%/năm, phấn đấu đạt 4%/năm (lĩnh vực trồng trọt 2,5 - 2,8%/năm; lĩnh vực chăn nuôi 5 - 5,5%/năm; lĩnh vực lâm nghiệp 4,8 - 5,5%/năm; lĩnh vực thủy sản 4,3% - 4,5%/năm); tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 -12%/năm.
Kế hoạch tăng trưởng ngành năm 2026: phấn đấu đạt mức tăng trưởng 3,7%, phấn đấu tăng 4,0% (trong đó lĩnh vực nông nghiệp tăng 3,86% trồng trọt tăng 2,5-2,75%; chăn nuôi tăng 5,2-5,5%), thủy sản tăng 4,42%, lâm nghiệp tăng 5,51%); tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD.