Trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu quặng khoáng sản nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc, đạt 63,6 nghìn tấn với trị giá 38,69 triệu USD, giảm 20,11% về lượng nhưng tăng 13,95% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025; chiếm tỷ trọng 46,14% tổng lượng quặng khoáng sản xuất khẩu của cả nước (mở rộng so với mức 27,56% của 4 tháng đầu năm 2025). Giá trung bình xuất khẩu quặng khoáng sản sang thị trường này đạt 608,24 USD/tấn, tăng 42,64% so với cùng kỳ năm 2025.
Nhật Bản là thị trường xuất khẩu quặng và khoáng sản lớn thứ hai của nước ta, đạt 24,87 nghìn tấn, trị giá đạt 7,19 triệu USD, tăng 14,13% về lượng và tăng 27,89% về trị giá so với 4 tháng đầu năm 2025; chiếm tỷ trọng 18,04% trong tổng lượng quặng khoáng sản xuất khẩu của Việt Nam (mở rộng so với mức 7,54% của cùng kỳ năm 2025). Giá xuất khẩu quặng khoáng sản sang thị trường này trung bình 4 tháng tăng 12,06% đạt 289,07 USD/tấn.
Tiếp đến là thị trường Đài Loan chiếm tỷ trọng 10,43%; ASEAN chiếm 8,72%; Hàn Quốc chiếm 0,14%.
Đáng chú ý, lượng quặng khoáng sản xuất khẩu sang Indonesia tăng cao do giá xuất khẩu giảm mạnh 82,67%. Ngược lại, giá quặng xuất sang ba thị trường Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan tăng cao khiến lượng xuất khẩu giảm mạnh so cùng kỳ năm 2025.
Xuất khẩu quặng và khoáng sản khác của Việt Nam sang một số thị trường trong 4 tháng đầu năm 2026
 |
|
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Cục Hải quan
|