Hoa Kỳ đã trở thành bạn hàng XK số một của Việt Nam và cũng là thị trường Việt Nam xuất siêu lớn nhất. Năm 2007, Việt Nam xuất siêu vào Hoa Kỳ 8 tỷ USD, trong khi cả nước nhập siêu 12,4 tỷ USD. 
Việt Nam XK sang Hoa Kỳ tập trung vào 18 nhóm mặt hàng. Đứng đầu là dệt may, năm 2007 kim ngạch đạt 4,39 tỷ USD, tăng 36% so với năm 2006, chiếm 6% thị phần nhập khẩu mặt hàng này của Hoa Kỳ. Với giá cả cạnh tranh, kiểu dáng bắt mắt, nên khi thị trường này mở ra, XK đồ gỗ tăng nhanh, năm 2007 đứng thứ 5 trong số các bạn hàng vào Hoa Kỳ, với kim ngạch 1,2 tỷ USD, tăng 35% so với năm 2006, chiếm một nửa kim ngạch đồ gỗ Việt Nam. Cũng năm 2007, XK giầy dép sang Hoa Kỳ đứng thứ 3 trong số các nền kinh tế có mặt tại thị trường này sau Trung Quốc, Italia, và đang có triển vọng vì Hoa Kỳ đã chuyển dần ngành này khỏi lãnh thổ, sản xuất nội địa chỉ còn dưới 2%, do đó doanh nghiệp Việt Nam ít có nguy cơ bị kiện chống bán phá giá. Đồng thời, Liên minh châu Âu đang có kế hoạch loại giầy dép Việt Nam ra khỏi hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), bởi cho rằng mặt hàng này của Việt Nam đã có sức cạnh tranh. Vì vậy, đẩy mạnh XK giầy dép sang Hoa Kỳ còn là một hướng đa dạng hoá thị trường... Người Việt Nam đến Hoa Kỳ bây giờ đã thấy bóng dáng hàng Việt Nam trong các siêu thị, họ thường đùa : “phải cẩn trọng khi mua hàng về làm quà, kẻo lại “chở củi về rừng””. Có thể nói, chân ướt chân ráo bước vào ngôi chợ thị phần còn xông xênh nhất toàn cầu này, “gánh hàng” Việt Nam đã ra tấm ra món. 
Tuy vậy, hàng xuất của Việt Nam năm 2007 mới chỉ chiếm 0,5% tổng trị giá nhập khẩu của Hoa Kỳ. May mặc, tuy không còn lệ thuộc vào hạn ngạch nhưng cơ chế giám sát của Hoa Kỳ vẫn còn lơ lửng, đe dọa áp thuế chống bán phá giá, làm cho các nhà nhập khẩu của Hoa Kỳ ngại đặt hàng. Hơn nữa, giá nguyên phụ liệu đang tăng, nên mặt hàng này chưa hết chuân chuyên. Đồ gỗ Việt Nam hầu như là sản phẩm từ các làng nghề nên chỉ thiên về đơn chiếc, số lượng không nhiều, khó đáp ứng đơn hàng lớn, trong khi tập quán sử dụng đồ gỗ và nội thất của Hoa Kỳ là đồng bộ từ không gian chung của toà nhà đến mỗi loại căn phòng, nên đa phần đồ gỗ của Việt Nam  mới “đậu” ở bên ngoài (outdoor furniture). Hơn nữa, ngành đồ gỗ đang đối mặt với việc nguồn nguyên liệu cạn kiệt nên những năm tới khó tăng đột biến. Thuỷ hải sản có lẽ do “kinh cung chi điểu” (chim nhìn cành cây cong hoảng sợ ngỡ là cánh cung) bị áp thuế chống bán phá giá cộng với việc chậm cải thiện về vệ sinh an toàn thực phẩm, nên mấy năm nay XK mặt hàng này dè dặt, kim ngạch năm 2007 hơn năm trước 6,3%. Nông sản chủ yếu xuất thô. Chỉ là cà phê chưa rang xay, hạt tiêu, hạt điều nguyên sơ, cao su thiên nhiên, mật ong thiên nhiên, quế và hoa quế… nên nhóm hàng này, năm 2007 kim ngạch chưa tới 600 triệu USD. Ngoài ra chưa thấy mặt hàng mới nào sáng giá, mang tầm quốc gia, thể hiện lợi thế so sánh. Lác đác có tên tuổi mới nhưng kim ngạch chỉ èo ọt vài ba chục triệu đô.
Thêm vào đó, kinh tế Mỹ đang suy thoái, tỷ giá đô la thất thường; nhiều loại nguyên nhiên liệu tăng giá; biến động tài chính, tiền tệ, lạm phát ở Việt Nam; cơ cấu XK của Việt Nam chủ yếu vẫn là hàng gia công, tỷ trọng nguyên liệu lớn…nên giá trị gia tăng vẫn thấp. Kinh tế Hoa Kỳ có tiềm lực lớn số 1 thế giới, bỏ xa nước đứng thứ nhì; là thị trường nhập khẩu khổng lồ, thị hiếu cao cấp, mỗi chủng loại hàng phải là lô lớn, nhiều rào cản khắt khe, biến động khó lường; doanh nghiệp Việt Nam lưng vốn ít, thiếu kinh nghiệm lại phải đối mặt với các “kỳ phùng địch thủ” đến từ nhiều nền kinh tế có thâm niên bươn chải trên thị trường này. Vì thế, muốn đẩy mạnh XK vào Hoa Kỳ không hề đơn giản, mà phải luận bàn để có đối sách bài bản, hệ thống các giải pháp đồng bộ. Song, trước mắt theo các chuyên gia kinh tế các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần sớm triển khai 8 giải pháp sau:
Một là, thúc đẩy sớm đạt được việc Hoa Kỳ áp dụng Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) để hàng hoá của Việt Nam được miễn, giảm thuế nhập khẩu.
Hai là, hoàn thiện về mọi mặt để Việt Nam được công nhận có nền kinh tế thị trường, từ đó hàng Việt Nam được đối xử bình đẳng theo luật pháp của Hoa Kỳ.
Ba là, hợp tác với Hoa Kỳ về Chương trình giám sát hàng dệt may của Việt Nam. Đôn đốc các doanh nghiệp XK hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ kê khai đầy đủ thông tin trên tất cả các chứng từ theo yêu cầu của việc giám sát, đồng thời kiểm tra ngăn ngừa hành vi gian lận thương mại, để nhanh chóng xoá ám ảnh này.
Bốn là, thúc đẩy Chương trình XK rau hoa quả vào Hoa Kỳ, bằng sản xuất lớn, tuân thủ quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm từ giống cây trồng, canh tác, bảo quản và chế biến.
Năm là, ký Hiệp định đầu tư giữa hai nước (BIT). Hiện tại Hoa Kỳ đứng thứ 6 trong số các nền kinh tế đầu tư vào Việt Nam. Song với những động thái vừa qua, việc Hoa Kỳ trở thành Nhà đầu tư số một chỉ còn là ngày một ngày hai, và sẽ có tác động tích cực đến ngoại thương giữa hai nước.
Sáu là, đẩy mạnh hợp tác về Hải quan. Hoa Kỳ có nền hải quan chuẩn mực quốc tế hàng đầu. Sau vụ khủng bố 11/9, họ tăng cường kiểm soát đảm bảo an ninh quốc gia từ xa và Việt Nam không là ngoại lệ. Vì vậy, đẩy mạnh hợp tác về Hải quan giữa hai nước sẽ là cơ hội để Hải quan nước ta đủ tầm giải quyết thông quan hàng hoá vào Hoa Kỳ cũng như vào các thị trường khác.
Bảy là, mở thêm cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam. Lãnh thổ Hoa Kỳ rộng, phát triển khá đồng đều, mà Việt Nam mới có Cơ quan thương vụ ở phía Tây và phía Đông Hoa Kỳ thì chưa đủ. Nên mở thêm nhánh cơ quan đó ở miền Bắc và miền Nam, để tăng đầu mối giúp doanh nghiệp tiếp nhận thông tin, tìm hiểu luật lệ, tham gia hội chợ triển lãm, khảo sát thị trường, chớp thời cơ, né tránh rào cản, giải toả khi gặp phải rắc rối ..., từ đó định hướng hoạt động của mình.
Tám là, nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại (XTTM) bằng nhiều nguồn lực, đa dạng hoá hình thức. Hoa Kỳ còn là thị trường xa, nếu chỉ trông vào kinh phí XTTM của Nhà nước ắt không đủ, nhất là kinh phí đó ngày càng chắt chiu. Mỗi doanh nghiệp phải dùng kinh doanh để nuôi XTTM và XTTM sẽ hỗ trợ trở lại kinh doanh./.

Nguồn: Thời báo kinh tế Việt nam