Thứ nhất, về việc áp mã số và tính thuế. Theo qui định tại Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Quyết định số 106/2007/QĐ-BTC ngày 20/12/2007, áp dụng cho các tờ khai hải quan đăng ký từ ngày 1/1/2008, nếu mặt hàng đá thuộc nhóm 25.15 thì có mức thuế xuất khẩu là 7%. Tuy nhiên, việc phân loại vào nhóm này cũng có thể áp vào nhóm 68.01 (thuế suất 0%). Có thể phân loại các trường hợp áp mã thuế này như sau:
- Đối với nhóm 68.01: Đối với đá tấm, đá lát đã qua gia công chế biến qua ít nhất 3 công đoạn, có thể sử dụng được ngay, bề mặt đã qua xử lý, có kích thước xác định cụ thể (ví dụ: 7x7x7cm, 15x15x2cm; 120-180x200 – 300x3-5cm...); đá hạt, đá đăm; có thể tính số lượng bằng m2, m3, viên/chiếc, tấn (tính bằng trọng lượng riêng)
- Đối với đá khối: đã cắt hoặc cưa đơn giản, có bề mặt nhẵn hoặc phẳng, hình dạng: chữ nhật (phổ biến), hình vuông hoặc hình khác; mục đích làm tượng đài, đồ mỹ nghệ, tác phẩm nghệ thuật (là những mục đích thông dụng) hoặc mục đích khác.
- Đối với nhóm 25.15: Đối với đá tấm, mới chỉ cắt bằng cưa hoặc cách khác (chỉ mới qua 2 công đoạn: 1-khai thác từ núi, 2 - đẽo hoặc cắt), bề mặt chưa được xử lý (còn vết đĩa cưa, sần sù), có thể có kích thước xác định cụ thể.
- Đối với đá khối: đã hoặc chưa đẽo thô, mới chỉ cắt bằng cưa hoặc cách khác (chỉ mới qua 2 công đoạn). HÌnh dạng: chữ nhật (phổ biến) hoặc hình vuông.
Việc phân nhóm trên không phụ thuộc vào loại đá nào, miễn là có trọng lượng riêng lớn hơn hoặc bằng 2,5.
Thực tế, Hiện Việt Nam chủ yếu xuất khẩu đá marbe, đá granit và một phần đá bazan dưới dạng tấm, kích thước xác định hoặc một phần đá mỹ nghệ (lò sưởi, tượng, tác phẩm nghệ thuật). Nếu có nghi vấn về phân loại mã số, các bộ Hải quan cần yêu cầu các DN xuất trình các chứng từ liên quan đến bộ hồ sơ (nhất là chứng từ bằng tiếng Anh) và kiểm tra thực tế hàng hoá. Một điều lưu ý nữa là phải xác định giá tối thiểu của mặt hàng được phân vào nhóm 25.15 (hiện nay trên GTT 22 mới chỉ có giá nhập khẩu mà chưa có giá XK) mà theo tham khảo, nếu là đá khối, giá tối thiểu 500USD/m3, đá tấm 6USD/m3.
Thứ 2, theo công văn 4579/BTC-CLH ngày 31/12/2007 của Bộ Công Thương về XK đá vôi trắng, thời hạn thực hiện XK đá trắng đến hết 31/3/2008 để chờ Thông tư mới sửa đổi, bổ sung Thông tư 02/2006/TT-BCN ngày 14/4/2006 hướng dẫn XK khoáng sản đang được sửa đổi. Tuy nhiên, đến nay Thông tư mới chưa được ban hành, trong khi chưa có văn bản hướng dẫn của Tổng cục Hải quan nên việc XK đá vôi trắng đang gặp khó khăn.
Thứ 3, cần thống nhất cách qui đổi đơn vị tính. Bởi vì hiện tại một trong những điều kiện để XK khoáng sản nói chung và đá vôi nói riêng là: “Có giấy phép khai thác khoáng sản hoặc Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản còn hiệu lực do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp”. Giấy phép bao giờ cũng có công suất khai thác, trữ lượng khai thác, thường tính bằng m3. Trong khi đó, khi làm thủ tục XK, doanh nghiệp thường tính bằng m2 hoặc kg. Vì vậy, cần phải áp dụng thống nhất sự qui đổi từ m2, kg sang m3 làm cho cơ sở cho việc trừ lùi giấy phép (trọng lượng riêng của đá thông thường từ 2,5 đến 2,7-1m3= 2.500 – 2.700kg; từ m2-m3: theo công thức toán học phổ thông).
Mặt khác, cũng cần biết tỷ lệ thu hồi trong khai thác sản xuất đá (thông thường khoảng 35%), vì để XK được 1m3 đá khối, phải khai thác được nhiều hơn 1m3 (trừ đi hao hụt), trong khi đó, đá vôi là mặt hàng XK quản lý theo diện có giấy phép (ví dụ, công suất khai thác theo giấy phép là: 10.000 m3/năm, doanh nghiệp khai thác làm thủ tục XK 150m3 thì không thể trừ 10.000 – 150 = 9.850m3 được mà phải là 10.000 – (150/0,35%) = 957,14m3.
Một điều cần lưu ý nữa là nếu doanh nghiệp đã xuất khẩu vượt quá công suất khai thác, nhưng vẫn nằm trong trữ lượng khai thác thì nên có ý kiến của cơ quan cấp giấy phép (thông thường là UBND cấp tỉnh) hoặc cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành (Sở Tài nguyên môi trường).