Xuất, nhập khẩu, nhập siêu 8 tháng và cả năm 2009-2010

ĐVT: tỷ USD
 
2009
Ước 2010
Xuất khẩu 8 tháng
37,19
44,52
Nhập khẩu 8 tháng
42,35
52,68
Nhập siêu 8 tháng
5,16
8,16
Xuất khẩu cả năm
57,10
67,50
Nhập khẩu cả năm
69,96
81,10
Nhập siêu cả năm
12,85
13,60

Từ các số liệu trên có thể rút ra một số nhận xét đáng chú ý: Xuất khẩu đạt kết quả khả quan. Sự khả quan này được xét trên các góc độ khác nhau.

Quy mô xuất khẩu 8 tháng năm nay đạt bình quân gần 5,6 tỷ USD/tháng, cao hơn gần 1 tỷ USD so với mức bình quân tháng của cùng kỳ năm trước. Đã 3 tháng nay, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 6 tỷ USD (tháng 6 đạt 6,3 tỷ USD, tháng 7 đạt 6,03 tỷ USD, ước 8 tháng đạt 6 tỷ USD). Mức bình quân của 8 tháng qua là tín hiệu khả quan để cả năm có thể đạt 67,5 tỷ USD. Nếu đạt được mức này, thì năm 2010 nhiều chỉ tiêu liên quan đến xuất khẩu đạt cao hơn năm 2009, như quy mô xuất khẩu cao hơn (trên 10 tỷ USD), vượt kế hoạch đề ra (khoảng 7 tỷ USD), tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP (68,6% so với 62,4%), kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người (777 USD so với 664 USD)…Tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu 8 tháng năm nay so với cùng kỳ lên đến 19,7%-đó là một tốc độ tăng khá cao. Nếu cả năm đạt được 67,5 tỷ USD, thì tăng 18,2% so với cả năm trước. Tốc độ tăng này vừa đảo chiều so với năm trước (năm trước giảm 8,9%), vừa cao gấp ba lần tốc độ tăng theo mục tiêu (18,2% so với 6%), vừa cao gấp khoảng 2,8 lần so với tốc độ tăng GDP… Điều đó có nghĩa là xuất khẩu đã trở lại với vai trò là động lực của tăng trưởng kinh tế.

Xuất khẩu đạt được kết quả trên do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân do cả 2 khu vực đều tăng trưởng, trong đó khu vực có vốn ĐTNN tăng khá, đặc biệt các hàng hóa khác của khu vực này tăng rất cao (trên 40%). Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng so với cùng kỳ năm trước(trừ một số mặt hàng như dầu thô, đá quý, kim loại quý và sản phẩm, cà phê…). Có một số hàng hóa tăng về lượng, như sắt thép, hạt điều, hạt tiêu. Có một số mặt hàng tăng về giá, như cao su giá tăng 91,6%, sắn và sản phẩm sắn giá tăng 74,2%, giá than đá tăng 51,6%, giá dầu thô tăng 46,9%, giá hạt tiêu tăng 35,6%, giá hạt điều tăng 19,1%, giá chè tăng 11,5%, giá gạo tăng 6,1%... Từ giờ đến cuối năm, một mặt do giá thế giới tăng, mặt khác do tỷ giá VND/USD mới tăng trên 2%, nên xuất khẩu sẽ được hưởng lợi.

Tuy nhiên, do xuất khẩu tăng thấp hơn nhập khẩu (8 tháng tăng 19,7% so với tăng 24,4%), nên nhập siêu còn lớn và gia tăng (8 tháng là 8,16 tỷ USD, tăng 3 tỷ USD so với cùng kỳ, ước cả năm lên đến 13,6 tỷ USD, cao hơn năm trước và là năm thứ 3 liên tục nếu tính bằng tỷ USD đã ở mức 2 chữ số. Tỷ lệ nhập siêu có thể cao hơn một chút so với mục tiêu kế hoạch (trên 20,1% so với mức dưới 20%).

Tình hình trên do nhiều nguyên nhân. Có một nguyên nhân rất quan trọng là do còn mất cân đối giữa sản xuất và sử dụng, tức là GDP sản xuất ra chưa đủ sử dụng cho tích lũy và tiêu dùng ở trong nước, hàng năm liên tục nhấp iêu hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài. GDP so với sử dụng thường đạt thấp(có năm chỉ đạt trên dưới 88%. Chênh lệch giữa giữa nhập siêu hàng hóa và dịch vụ so với GDP 3 năm nay đã ở mức 2 chữ số (năm 2007 là 15,9%, năm 2008 là 15,2%, năm 2009 là 10,4%). Khi sản xuất chưa đủ sử dụng thì nhập siêu là không thể tránh khỏi. Điều đáng nói là có hàng chục, hàng trăm mặt hàng sản xuất không đủ sử dụng như thức ăn chăn nuôi, clinke, nguyên liệu gỗ, nguyên liệu giấy, da, nguyên phụ liệu dệt may, đường, trắng, sữa và sản phẩm sữa….

Có nguyên nhân do hiệu quả và sức cạnh tranh. Hiệu quả và sức cạnh tranh thấp có rất nhiều biểu hiện và do nhiều yếu tố. Giá nhân công rẻ nhưng hiệu quả và sức cạnh tranh vẫn thấp, có một phần quan trọng do năng suất lao động quá thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chưa đạt được một phần ba, cơ cấu lao động chuyển dịch chậm… Vốn đầu tư thiếu, phải đi vay với lãi suất cao hơn khả năng sinh lời, khi đầu tư, sử dụng lại bị thất thoát, lãng phí, thi công kéo dài, giá mặt bằng sản xuất, kinh doanh quá cao. Tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu, điện lực cao. Các yếu tố đó đã làm cho hàng hóa Việt Nam kém cạnh tranh trên sân người và thua trên sân nhà. Có nguyên nhân do cơ cấu sản xuất, cơ cấu xuất khẩu còn mang nặng tính gia công, phụ thuộc vào nước ngoài, giá trị gia tăng thấp, công nghiệp phụ trợ chậm phát triển. Nhưng nguy hại nhất là có nguyên nhân do một số nhà hoạch định chính sách vĩ mô, trong thời gian tương đối dài đã coi nhập siêu là bình thường của những nước đang phát triển. Đây là sự ngụy biện, bởi xét trên phạm vi thế giới, những nước phát triển thì nhập siêu, những nước đang phát triển thì xuất siêu, thậm chí có những nước xuất siêu lớn.

(TBKTVN)


Nguồn: Vinanet