Kết quả nghiên cứu cho thấy mức thay đổi của 112 ngành trên toàn bộ nền kinh tế, chỉ ra ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu lên giá sản xuất và giá cuối cùng 112 ngành hàng. Trong đó, ảnh hưởng trực tiếp là do giá xăng dầu tăng tác động đến giá của mặt hàng sử dụng xăng dầu làm nguyên liệu đầu vào trực tiếp; ảnh hưởng gián tiếp là ảnh hưởng dây chuyền, theo vòng lặp thông qua việc tăng giá các mặt hàng làm yếu tố trung gian, mà các mặt hàng này đã bị tăng giá vì việc tăng giá xăng dầu; giá cuối cùng bằng giá sản xuất cộng với chi phí lưu thông.
Mức giá sản xuất bình quân sẽ tăng khoảng 2,56%. Mặc dù các ngành chịu sức ép tăng giá khác nhau, nhưng nhìn chung chúng tôi cho rằng khu vực doanh nghiệp không nên thổi phồng quá mức sự tăng giá. Mức độ tăng giá trên thực tế, ngoài việc phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật của cấu trúc chi phí doanh nghiệp và toàn nền kinh tế, còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố tâm lý và cấu trúc thị trường. Yếu tố tâm lý có thể có khuynh hướng thổi phồng ảnh hưởng của giá xăng dầu theo hướng quá bi quan, dẫn tới sức ép tăng giá mạnh hoặc cắt giảm sản xuất. Trong khi đó, cấu trúc thị trường, chẳng hạn như với các thị trường có tính độc quyền cao, sự tăng giá có thể diễn ra do doanh nghiệp có khả năng tăng giá một cách tuỳ tiện, chứ không nhất thiết chỉ là dựa trên tính toán kỹ thuật. Do đó, việc giám sát và kiểm soát giá từ phía xã hội dân sự và Chính phủ là cần thiết trong các thị trường có tính độc quyền cao.
Các tính toán ở cấp độ ngành đã đưa ra những tham chiếu nhất định về sức ép tăng giá khác nhau ở các ngành khác nhau. Trên cơ sở đó, Chính phủ có thể xác định được ngành nào hoặc doanh nghiệp nào đã tăng giá thái quá, nghĩa là chủ yếu dựa trên sức mạnh thị trường và lý do tâm lý cảm tính.
Chẳng hạn, một hàm ý có thể rút ra, là việc tăng giá cước ô tô vận tải ở một vùng trong khoảng 8 – 10% dường như là khá hợp lý, trong khi đó, đối với một số doanh nghiệp taxi, mức tăng trên 20% có thể là một mức tăng thái quá, trừ khi đây là sự tăng giá bù đắp cho cả những lần tăng giá xăng luỹ kế trước đó mà các doanh nghiệp chưa có sự điều chỉnh...
|
Tên ngành |
Ảnh hưởng trực tiếp lên chỉ số giá sản xuất (PPI) % |
Ảnh hưởng gián tiếp lên chỉ số giá sản xuất (%) |
Ảnh hưởng tổng thể lên chỉ số giá sản xuất (%) |
Ảnh hưởng lên giá cuối cùng (%) |
Tỷ trọng chi phí xăng dầu trong tổng chi phí (%) |
|
Ngư nghiệp |
7,63 |
0,05 |
7,68 |
8,66 |
25,76 |
|
Sữa, bơ và các sản phẩm từ sữa |
0,21 |
1,14 |
1,34 |
2,26 |
0,68 |
|
Gạch ngói |
2,57 |
1,33 |
3,90 |
4,84 |
8,57 |
|
Xi măng |
3,01 |
0,32 |
3,34 |
4,28 |
10,04 |
|
Chế biến cao su |
2,36 |
1,13 |
3,49 |
4.43 |
7,88 |
|
Thức ăn gia súc |
1,50 |
1,14 |
2,64 |
3,57 |
5,00 |
|
Điện, gas |
4,06 |
2,98 |
7,04 |
8,02 |
13,54 |
|
Vận tải đường bộ |
5,95 |
4,14 |
10,09 |
10,09 |
19,83 |
|
Vận tải đường sắt |
3,11 |
3,59 |
6,69 |
6,69 |
10,35 |
|
Vận tải thuỷ |
9,79 |
1,39 |
11,18 |
11,18 |
32,64 |
|
Vận tải hàng không |
6,09 |
0,12 |
6,21 |
6,21 |
21,31 |
(Sài gòn tiếp thị)