Cua: Nhập khẩu cua vào Nhật đã chuyển từ Bắc Mỹ trong nửa đầu thập kỷ 90 sang Nga. Tuy nhiên, nhập khẩu từ Nga cũng đã giảm đáng kể do chính phủ Nga đã thắt chặt quản lý nguồn lợi ở Viễn Đông.
Nhập khẩu cua huỳnh đế (sống và đông lạnh) vào Nhật đã giảm hơn một nửa vào năm 2007, từ hơn 100.000 tấn vào năm 1997.
Thị trường cua nội địa hiện nay đang phải đối mặt tình trạng thiếu nguồn cung dài hạn, đặc biệt là các sản phẩm giá rẻ.
Cá hồi: Nhập khẩu cá hồi của Nhật đạt mức kỷ lục 310.000 tấn vào năm 2002, tăng 30% so với năm 1997. Tuy nhiên, nhập khẩu giảm dần do sức mua giảm sút. Năm 2007, nhập khẩu cá hồi vào Nhật giảm xuống mức của 10 năm trước, đạt 210.000 tấn.
Nhập khẩu cá hồi vào Nhật có chiều hướng giảm sút còn do nhiều yếu tố khác như nguồn cung cá hồi Chilê giảm, nhập khẩu cá hồi Đại Tây Dương từ Bắc Âu giảm và nguồn cung cá hồi đỏ giảm.
Surimi: Các nhà phân tích thị trường cho rằng cuộc cạnh tranh trên thị trường surimi cá minh thái thế giới sẽ ngày càng khốc liệt.
Trong những năm gần đây, nhập khẩu surimi của Nhật từ Mỹ đạt mức kỷ lục vào năm 2001 với 137.000 tấn, sau đó giảm dần xuống còn từ 100.000 - 120.000 tấn, và đạt gần 100.000 tấn vào năm 2007.
Trong khi đó, nhu cầu surimi lại tăng mạnh ở các nước phương Tây và Hàn Quốc. Năm 2007, Hàn Quốc đã vượt qua Nhật về nhập khẩu surimi.
Tôm: Tôm chiếm khoảng 10% tổng nhập khẩu thuỷ sản của Nhật. Giá trị nhập khẩu đạt 200 tỉ Yên/năm.
Trong vòng 10 năm qua, nhập khẩu tôm vào Nhật giảm 22,4% và tôm không còn là mặt hàng thuỷ sản được quan tâm hàng đầu ở nước này nữa.

Nguồn: Vasep