Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm trong nhập khẩu tôm của Mỹ, trong đó chủ yếu là do đồng USD mất giá, giá dầu tăng, sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ nói chung, những tranh chấp liên quan tới thuế chống bán phá giá, sự sụt giảm về sản lượng ở một số khu vực chính và lòng tin của người tiêu dùng suy giảm.
Sự sụt giảm này ảnh hưởng tới gần như toàn bộ các sản phẩm, trừ một vài sản phẩm giá trị gia tăng. Sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là tôm nguyên vỏ bỏ đầu HLSO (236.000 tấn, tương đương 42% tổng nhập khẩu), đã giảm 8% cả về khối lượng và giá trị so với năm 2006. Ngược lại tôm bóc vỏ đônglạnh, mặt hàng nhập khẩu lớn thứ hai của Mỹ lại tăng đang kể, đạt 178.592 tấn, chiếm 32% thị phần nhập khẩu, tăng 10% so với năm 2006. Nhập khẩu các sản phẩm chế biến sẵn khác, nhất là đối với các sản phẩm bao bột đông lạnh, giảm đáng kể (-26%). Nhìn chung, do khối lượng và giá trị giảm với tỉ lệ ngang nhau, nên giá trung bình của mặt hàng tôm vẫn ổn định với hầu hết các sản phẩm.
Thái Lan vẫn giữ vị trí nhà cung cấp tôm lớn nhất cho thị trường Mỹ với 188.300 tấn, tương đương 1,2 tỉ USD nhưng xuất khẩu của nước này sang Mỹ đã giảm 3% cả về lượng và giá trị. Tuy nhiên, thị phần của Thái Lan tiếp tục tăng nhẹ ở thị trường Mỹ. Năm 2007 là một năm khó khăn đối với Thái Lan do giá bán giảm và thuế chống bán phá giá. Quyết định của WTO có phần ưu ái với Thái Lan đã tạo điều kiện cho tôm Thái Lan thâm nhập thị trường Mỹ với mức thuế thấp trong năm 2008.
Nhập khẩu tôm của Mỹ, 2002-2007 (ĐVT: 1000 tấn)
 
2002
2003
2004
2005
2006
2007
Thái Lan
115,1
133,2
132,1
160,9
193,7
188,3
Ecuađo
29,7
34,0
37,5
49,6
59,4
59,1
Inđônêxia
17,4
21,7
47,0
52,6
58,7
59,1
Trung Quốc
49,5
81,0
66,0
45,2
68,2
48,4
Mêhicô
24,3
25,5
29,0
28,1
35,4
40,6
Việt Nam
44,7
57,4
37,1
42,9
37,1
39,3
Malaixia
1,5
1,3
12,7
17,2
20,3
22,8
Ấn Độ
44,2
45,5
41,0
35,7
27,3
20,8
Bănglađét
8,5
8,1
17,4
15,8
19,4
14,9
Vênêduêla
10,3
10,0
16,3
11,4
9,9
10,8
Gaina
9,7
11,4
8,4
8,6
7,8
8,9
Braxin
17,7
21,8
9,2
3,0
0,6
0,0
Nước khác
56,7
53,6
63,9
57,8
52,5
43,9
Tổng cộng
429,3
504,5
517,6
828,8
590,3
556,9
Ecuađo, nhà cung cấp lớn thứ hai cho Mỹ, đã có sự tăng trường mạnh trong những năm gần đây với thị phần ngày một tăng mặc dù xuất khẩu tôm của nước này sang Mỹ đã giảm nhẹ trong năm 2007. Ecuađo đã xuất 45.800 tấn tôm HLSO, nhất là đối với các sản phẩm tôm cỡ lớn. Inđônêxia đã vươn lên đạt mức xuất khẩu ngang với Ecuađo trong năm 2007. Tôm Việt Nam (+6%) và Mêhicô (+15%) là một trong số ít nước có sự gia tăng về khối lượng xuất khẩu sang Mỹ.
Sau thành công của năm 2006, xuất khẩu tôm của Trung Quốc sang Mỹ đã giảm gần 30% do quyết định của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đưa ra hồi tháng 6 năm ngoái cấm nhập khẩu tôm có xuất xứ từ Trung Quốc do chứa các loại thuốc cấm sử dụng. Tôm bao bột đông lạnh, mặt hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc vì vậy đã có sự sụt giảm mạnh.
Tôm Braxin gần như biến mất trên thị trường Mỹ do mức thuế cao, ngoài ra còn do các nhà sản xuất ưu tiên khai thác thị trường trong nước do tôm được giá nhờ đồng nội tệ tăng giá.
Các nước Đông Nam Á đã đa dạng hoá nguồn cung tôm sang Mỹ với nhiều sản phẩm giá trị gia tăng hơn trước, trong khi đó các nước Mỹ Latinh (Ecuađo và Mêhicô) tập trung nhiều hơn vào các sản phẩm tôm nguyên vỏ đông lạnh. Nguồn cung tôm trong nước năm ngoái rất thấp, chỉ với 71.200 tấn (giảm 45% so với năm 2006).
Những thay đổi trong xu hướng tiêu dùng của Mỹ do cuộc khủng hoảng kinh tế
Kinh tế suy thoái đang dẫn tới sự thay đổi trong thói quen của người tiêu dùng Mỹ. Theo khảo sát của Nielsen đối với 50.000 người tiêu dùng, khoảng 2/3 số người được hỏi đã giảm chi và khoảng một nửa đã ít ăn hàng hơn trước. Khoảng 1/3 người tiêu dùng chuyển sang các mặt hàng giá rẻ hơn. Mặt khác, một nghiên cứu của Unilever được tiến hành dựa trên một cuộc khảo sát đối với 47.000 người tiêu dùng cho biết đa số họ giảm mua thuỷ sản ít hơn so với các loại thực phẩm đông lạnh khác. Xu hướng này sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới nhu cầu tôm tại các nhà hàng, kênh tiêu thụ tôm chính tại Mỹ, trong khi ảnh hưởng đối với tiêu thụ tại hộ gia đình vần chưa rõ ràng.
Nhập khẩu tôm vào Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2008 đạt tổng cộng 236.000 tấn, hầu như không thay đổi về khói lượng so với cùng kỳ năm 2007, trong khi giá trị tăng 2,4%. Kết quả cũng cho biết giá tôm nhập khẩu vào Mỹ tăng 2,5%, chủ yếu là tôm vỏ đông lạnh. Nhìn chung, các nước Châu Á như Thái Lan, Inđônêxia, Trung Quốc và Việt Nam vẫn chi phối thị trường tôm Mỹ, chiếm 65% tổng nhâp khẩu. Ecuađo là nhà cung cấp quan trọng với 13% thị phần. Các nước Châu Á cung cấp nhiều sản phẩ giá trị gia tăng hơn, trong khi các nước Mỹ Latinh chủ yếu cung cấp sản phẩm tôm bỏ đầu đông lạnh.
Tôm vỏ đông lạnh vẫn là sản phẩm quan trọng nhất, chiếm 40% khối lượng và 41% giá trị nhập khẩu (tương đương 94.000 tấn, trị giá 680 triệu USD). Ecuađo là nhà cung cấp nhiều tôm HLSO nhất sang Mỹ với 26% thị phần. Sản phẩm quan trọng thứ hai là tôm thịt đông lạnh, với 74.700 tấn, trị giá 545 triệu USD, chiếm 32% khối lượng và 33% giá trị trong tổng nhập khẩu. So với những số liệu của cùng kỳ năm 2007, nhâp khẩu tôm của Mỹ đã tăng 3% về khối lượng và 1% về giá trị. Nhà cung cấp chính là Thái Lan với 27% thị phần, tiếp đến là Inđônêixa với 24% thị phần. Tôm bao bột đông lạnh và các sản phẩm tôm đông lạnh khác đều tăng thị phần trong thời gian này và Trung Quốc là nước cung cấp nhiều tôm loại này nhất cho Mỹ, nhưng xuất khẩu đã giảm cả về khối lượng (-25%) và giá trị (-29%), trong khi đó tôm bao bột từ Thái Lan tăng thị phần tại thịt trường trên.
Sau đợt xem xét hành chính lần thứ hai của Bộ Thương mại Mỹ về việc cắt giảm thuế chống bán phá giá đối với một số công ty từ Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam thì Tập đoàn Thực phẩm đông lạnh Thái Lan (Thai Union Frozen Products), một trong những nhà cung cấp tôm lớn nhất thế giới được giảm thuế xuống 2,85% từ mức 15,3%, trong khi mức thuế trung bình đối với các công ty xuất khẩu tôm khác của Thái Lan là 5,95%. Giả thuế đã tạo điều kiện cho hàng loạt công ty khác của Thái. Có 4 công ty của Việt Nam được miễn thuế chống phá giá, 23 công ty phải trả mức thuế 4,57% và các công ty khác sẽ phải trả mức thuế 35,76%, mức thuế này quá cao và sẽ gây khó khăn cho các công ty của Việt Nam. Còn các công ty Ấn Độ nhận mức thuế 1,69%, thấp hơn nhiều so với mức 7,22% trước đo. Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn kiến nghị WTO yêu cầu Mỹ huỷ bỏ quy định ký quỹ đối với tôm nhập khẩu từ nước này, còn Mỹ thì muốn kéo dài thời gian xem xét có loại bỏ việc ký quỹ hay không.
Sản lượng tôm nội địa của Mỹ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các cơn bão nhiệt đới. Mặc dù các đội tàu khai thác không bị thiệt hại nghiêm trọng như đợt bão Katrina, nhưng lại dẫn đến tình trạng thiếu nhiên liệu và nước đá. Trước khi những cơn bão diễn ra, nhiều công ty đã phải cố gắng tiêu thụ lượng hàng dự trữ trong kho đồng thời hạ giá bán. Mặc dù, sự sụt giảm nguồn cung tôm trong nước không làm tăng giá tôm nhiều như dự kiến do nhu cầu vẫn thấp và các sản phẩm nhập khẩu đã được ấn định mức giá trần. Sản lượng tôm đánh bắt tại Mỹ trong 6 tháng đầu năm nay giảm 22% so với năm 2007, chỉ đạt 26.000 tấn. Dự báo sản lượng tôm nội địa Mỹ sẽ còn tiếp tục giảm vì giá nhiên liệu tăng và giá bán thấp. Về lâu dài, điều này chắc chắn sẽ dẫn đến số lượng tàu đánh bắt sẽ giảm.
Agroviet

Nguồn: Internet