Dầu là một tài nguyên có hạn. Các nhà phân tích cho rằng, giá dầu tăng vọt và liên tục phá kỷ lục gần đây đơn thuần là một tín hiệu cho thấy chúng ta không còn sống trong một kỷ nguyên dư thừa dầu mỏ nữa, và cần phải sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên này, đồng thời xúc tiến nghiên cứu, phát triển các nguồn năng lượng thay thế.
Giá dầu sẽ lên đến 200 USD/thùng. Đó là dự đoán do Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs đưa ra vào tuần trước. Giá dầu thực tế hiện ở mức cao nhất từ trước tới nay. 200 USD sẽ là mức cao gần gấp đôi so với mọi mức đỉnh trước đây của giá dầu (xem biểu đồ dưới). Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm khi quá bận tâm tới cú sốc tăng giá dầu trong ngắn hạn mà không để ý tới vấn đề dài hạn.
Giá dầu là đường màu xanh tính theo USD năm 2008 (đã loại bỏ yếu tố biến động giá).
Đây là ba yếu tố quan trọng về dầu mỏ: Dầu là một tài nguyên có hạn; Xăng dầu đang được sử dụng chủ yếu làm nhiên liệu cho hệ thống vận tải toàn cầu hiện nay; Nếu các nền kinh tế đang nổi tiêu thụ dầu như châu Âu từng tiêu thụ, thì nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới sẽ tăng thêm 150%.
Những gì đang xảy ra lúc này dễ khiến mọi người đổ lỗi cho giá dầu tăng vọt hiện nay là do các nhà đầu cơ và các công ty dầu mỏ lớn hoạt động yếu kém gây ra.
Nhưng thực tế lại khác. Nhu cầu dầu mỏ tăng dần do lượng ô-tô, xe máy trên thế giới tăng. Hiện nay, Mỹ có 250 triệu ô-tô, xe máy và Trung Quốc mới chỉ có 37 triệu. Số lượng xe cộ tăng lên tại Trung Quốc sẽ là không thể tưởng tượng nổi vì nước này đông dân nhất thế giới. Các nền kinh tế đang nổi khác cũng sẽ tăng lượng xe cộ.
Trong khi đó, công suất khai thác dầu còn dư của các thành viên Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) hiện ở mức rất thấp, và kỳ vọng về mức tăng sản lượng dầu ngoài khối OPEC cũng khá thấp.
Biểu đồ về mức tăng lượng cung (đường màu đỏ biểu thị mức  tăng lượng cung dự kiến của OPEC vào đầu các năm, và đường màu xanh là mức tăng lượng cung thực tế ngoài OPEC).
Dường như ngày càng khó để tăng lượng cung thêm khoảng 1,4 triệu thùng/ngày mỗi năm cần để đáp ứng nhu cầu, vì điều này có nghĩa là cứ bảy năm lại phải có thêm lượng dầu tương đương với nguồn cung của A-rập Xê-út hiện nay.
Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế, gần hai phần ba lượng cung cần tăng thêm trong tám năm tới chỉ là để thay thế cho sản lượng khai thác đang giảm sút tại các mỏ dầu hiện nay. Điều này khiến việc tăng sản lượng khai thác thêm 1,4 triệu thùng/ngày trở nên khó khăn hơn.
Theo dự đoán trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), mức sản lượng đỉnh khai thác dầu sẽ sớm đạt được do các công nghệ khai thác hiệu quả hiện nay.
Tình trạng đầu cơ không phải là không có vai trò gì trong những lần tăng giá gần đây. Nhưng thật khó để tin rằng đó thực sự là nguyên nhân lớn, quan trọng. Trên thực tế, giá dầu tính bằng đồng USD đã tăng mạnh, nhưng một phần là do đồng USD giảm giá. Nếu sự đầu cơ làm tăng giá dầu trên mức bảo đảm, mọi người sẽ thấy lượng tồn kho phải tăng nhanh. Tuy nhiên, như Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs và Quỹ Tiền tệ quốc tế đã chỉ ra, không có bằng chứng về lượng hàng tồn kho tăng mạnh như vậy.
Về vốn đầu tư để nâng cao năng lực sản xuất, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cho thấy, vốn đầu tư danh nghĩa của các công ty dầu mỏ trong nước và quốc tế đã tăng hơn gấp đôi trong giai đoạn 2000 đến 2006. Nhưng vốn đầu tư thực tế (sau khi đã loại bỏ yếu tố biến động giá) hầu như không tăng, vì sự khan hiếm các thiết bị và các công nhân dầu mỏ có kỹ năng trên toàn cầu.
Trong bối cảnh này, dường như chắc chắn hơn khi cho rằng sự đầu cơ đang làm ổn định chứ không phải là làm mất ổn định thị trường dầu mỏ. Hay nói cách khác, nó đang đưa giá đi đúng hướng để giảm nhu cầu.
Chắc chắn nhu cầu sẽ giảm để phù hợp với lượng cung vì một lý do đơn giản: chúng ta không thể tiêu thụ dầu mà không có.
Theo sau những lần dầu tăng giá vào những năm 70 của thế kỷ trước là sự giảm mạnh về nhu cầu và sản lượng (xem biểu đồ). Điều này một phần là do suy thoái kinh tế và phần khác là do hiệu suất sử dụng nhiên liệu tăng.
Biểu đồ sự thay đổi nhu cầu về dầu hàng năm từ năm 2003 đến năm 2008 (đv tính: 100 triệu thùng/ngày).
Cả hai yếu tố này sẽ lại xảy ra vào lúc này, nhưng với mức độ nhỏ hơn nhiều.
Kinh tế Mỹ chắc chắn sẽ suy giảm mạnh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng sẽ suy giảm tại Tây Âu và Nhật Bản và thậm chí tại các nền kinh tế đang nổi. Nhưng các nền kinh tế đang nổi sẽ vẫn tăng trưởng nhanh và do vậy nhu cầu dầu mỏ trên thế giới chắc chắn tiếp tục tăng khá mạnh.
Hiệu suất sử dụng xăng dầu tăng, do người dân chuyển sang sử dụng xe cộ tiết kiệm năng lượng hơn, đáng chú ý tại miền bắc nước Mỹ (nơi dư địa để làm việc này là rất lớn), và do vậy lượng xăng dầu tiết kiệm được sẽ "bù đắp" nhu cầu tăng lên về đi lại bằng ô-tô, xe máy, tại các nền kinh tế mởi nổi, đang tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới.
Cộng cả hai yếu tố này lại, chắc chắn tổng cầu dầu mỏ sẽ không giảm mạnh như nó đã diễn ra sau hai lần giá dầu tăng vọt trước đây, và cũng chắc chắn không xảy ra tình trạng mức cung dầu tăng thêm sẽ quá cao so với nhu cầu trong tương lai gần.
Điều này không có nghĩa là giá vẫn cao như hiện nay trong một tương lai vô hạn định. Nhưng nó có nghĩa là có nhiều khả năng giá dầu sẽ vẫn khá cao trong một thời gian dài.
Trước thực tế như vậy, chúng ta nên có phản ứng như thế nào?
Trước tiên, đừng đổ lỗi cho các nhà đầu cơ, các công ty dầu hoặc thậm chí là OPEC. Họ là những người đưa tin. Thông điệp đó là có sự thay đổi cơ bản về cung cầu. Nếu các nhà đầu cơ đẩy giá lên để phán ứng lại, thì họ đang giúp điều chỉnh để cân bằng cung cầu. Thậm chí nếu OPEC cắt giảm sản lượng. thì nó cũng đang duy trì một nguồn tài nguyên có giá trị cho tương lai.
Thứ hai, đứng đổ lỗi cho các nền kinh tế đang nổi về sự gia tăng nhu cầu dầu mỏ của họ. Những công dân của các nước giàu phải chấp nhận sự điều chỉnh tăng giá dầu do nhu cầu của các nền kinh tế đang nổi tạo ra.
Thứ ba, giá dầu trong giai đoạn này đang đóng một vai trò lớn về mặt kinh tế vĩ mô. Với mức giá 100 USD/thùng, giá trị sản lượng dầu hàng năm trên thế giới lên tới gần 3.000 tỷ USD, bằng 5% GDP trên toàn thế giới. Trong lịch sử, chỉ có hai năm, giá trị sản lượng cao hơn mức hiện nay là năm 1979 và 1982.
Thứ tư, việc giá dầu điều chỉnh lên mức cao hơn sẽ góp một phần lớn vào việc khuyến khích sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên có hạn này và vào việc cải thiện môi trường.
Thứ năm, hãy nỗ lực đạt được thỏa thuận trên toàn cầu về một hiệp định buôn bán dầu dựa trên nguyên tắc cơ bản là các nước sản xuất dầu sẽ được phép bán dầu cho những nhà thầu mua với giá cao nhất. Đừng sử dụng vũ lực để chiếm được ưu thế trong thị trường này.
Cuối cùng, hãy chú trọng đầu tư  nghiên cứu cơ bản về những công nghệ thay thế. Việc đầu tư cho một tương lai hậu dầu mỏ là một mục tiêu hợp lý.
Chúng ta không còn sống trong một kỷ nguyên dư thừa nguồn tài nguyên thiên nhiên nữa. Có thể là sự thay đổi lớn về cung cầu sẽ đảo ngược tình hình hiện nay, như đã xảy ra vào những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ trước. Chắc chắn chúng ta có thể hy vọng về một kết quả tốt đẹp. Nhưng hy vọng không phải là một chính sách.
Sự kiện lớn nhất trong thời đại của chúng ta là đưa công nghiệp hóa tới hàng tỷ người. Giá tài nguyên cao là phản ứng của thị trường đối với chuyển biến này. Thị trường đang nói rằng chúng ta phải sử dụng các nguồn tài nguyên một cách khôn ngoan khi các nguồn tài nguyên này giở đây trở nên có giá trị hơn. Thị trường luôn đúng.

Nguồn: Internet