Tiêu thụ tôm của các nước Bắc Âu giảm trong năm 2008
Trong những năm gần đây, nhập khẩu tôm của Tây Ban Nha và Italia đã có sự tăng trưởng không ngừng, tuy nhiên đã đột ngột giảm vào đầu năm nay, chỉ với 26.000 tấn của Tây Ban Nha (giảm 24% về khối lượng và 29% về giá trị so với cùng kỳ năm 2007. Sự sụt giảm nhập khẩu chủ yếu từ các nhà cung cấp chính, đặc biệt là từ Áchentina.
Sau khi lấy lại được vị trí dẫn đầu trong số các nhà xuất khẩu tôm sang Tây Ban Nha vào cuối năm 2007, Áchentina đã rớt trở lại vị trí thứ tư và thứ năm ở Italia. Như đã được dự đoán, sản lượng tôm khai thác của Áchentina đặc biệt thấp trong quý I/2008 (-78% so với cùng kỳ 2007). Ngoài ra, tình trạng này khó có thể cải thiện do con số sản lượng chính thức của tháng 4 và 5 cũng rất thấp. Tuy nhiên, nhập khẩu giảm không chỉ do nguyên nhân sản lượng tôm Pleoticus muelleri của Áchentina thấp bởi tất cả các nhà cung cấp chính cho Tây Ban Nha và Italia đều giảm xuất khẩu sang hai thị trường này, đặc biệt là các nước sản xuất tôm Chân trắng. Hai loại lệ nằm trong số các nhà cung cấp hàng đầu là Marốc (+8%, chủ yếu là tôm Parapenaeus longirostris) trên thị trường Tây Ban Nha và của Ấn Độ (+27%, chủ yếu là tôm Sú) trên thị trường Italia.
|
Nhập khẩu tôm của Tây Ban Nha (đơn vị: 1000 tấn) |
|
|
Tháng 1-3 |
|
|
2003 |
2004 |
2005 |
2006 |
2007 |
2008 |
|
Trung Quốc |
0,3 |
0,3 |
4,3 |
6,9 |
7,8 |
6,6 |
|
Ecuađo |
0,8 |
1,5 |
1,5 |
3,3 |
4,5 |
4,2 |
|
Marốc |
1,5 |
1,6 |
2 |
1,5 |
1,6 |
1,7 |
|
Áchentina |
2,6 |
4,1 |
0,8 |
1,1 |
3,8 |
1,6 |
|
Côlômbia |
0,9 |
0,9 |
1,2 |
1 |
1,2 |
1,1 |
|
Bỉ |
0,4 |
0,6 |
0,7 |
0,6 |
1 |
0,8 |
|
Xênêgan |
0,6 |
0,9 |
1,1 |
0,6 |
0,9 |
0,8 |
|
Cuba |
0,2 |
0,2 |
0,2 |
0,9 |
1,1 |
0,8 |
|
Nicaragoa |
0,1 |
0,4 |
0,5 |
1 |
1 |
0,7 |
|
Hà Lan |
0,8 |
0,9 |
1,1 |
1 |
1,1 |
0,7 |
|
Vênêduêla |
0,2 |
0,6 |
0,7 |
1 |
0,9 |
0,6 |
|
Nước khác |
11,7 |
15,3 |
10,1 |
10,8 |
9,4 |
6,4 |
|
Tổng cộng |
19,9 |
27,3 |
24 |
29,7 |
34,3 |
26 |
Mặc dù Trung Quốc hiện vẫn là nhà cung cấp lớn nhất cho Tây Ban Nha, nhưng xuất khẩu của nước này đã giảm 16% vào thị trường Tây Ban Nha và giảm 57% ở thị trường Italia. Xuất khẩu của Ecuađo cũng giảm 6% sang Tây Ban Nha và 13% sang Italia về khối lượng, tuy nhiên vẫn là nhà cung cấp lớn nhất về thi phần (31%) và quyết định tăng cường xuất khẩu sang Pháp.
|
Nhập khẩu tôm của Italia (đơn vị: 1000 tấn) |
|
|
Tháng 1-3 |
|
|
2005 |
2006 |
2007 |
2008 |
|
Ecuađo |
2,5 |
3,5 |
4,5 |
3,9 |
|
Ấn Độ |
1 |
1 |
1 |
1,3 |
|
Đan Mạch |
1,2 |
1,2 |
1,4 |
1,2 |
|
Tây Ban Nha |
0,5 |
0,7 |
1 |
0,9 |
|
Áchehtina |
0,2 |
0,4 |
0,7 |
0,5 |
|
Hà Lan |
0,5 |
0,6 |
0,6 |
0,5 |
|
Malaixia |
0,8 |
0,6 |
0,7 |
0,4 |
|
Anh |
0,5 |
0,6 |
0,4 |
0,4 |
|
Trung Quốc |
0,4 |
0,4 |
0,9 |
0,4 |
|
Nước khác |
5,1 |
3,9 |
3,7 |
3,3 |
|
Tổng cộng |
12,7 |
12,9 |
14,9 |
12,8 |
Xuất khẩu tôm của Malaixia sang tất cả các thị trường châu Âu trong quý I/2008 đều giảm (-3% ở thị trường Pháp, -44% ở thị trường Italia, -33% ở thị trường Anh) và tình hình này dự kiến sẽ còn tồi tệ hơn trong những tháng tới nước này chủ động tạm ngừng xuất khẩu thủy sản sang EU để tránh một lệnh cấm nhập khẩu sau chuyến tranh tra của EU ở Malaixia.
Thị trường Pháp đang mở rộng hơn
Trái ngược với Tây Ban Nha và Italia, Pháp tiếp tục mở rộng nhập khẩu tôm trong quý I/2008 với 23.500 tấn, trị giá 11,3 triệu Euro, tăng 11% so với cùng kỳ 2007 về cả khối lượng và giá trị. Trong đó, mặt hàng tôm đông lạnh nguyên con có sức tăng mạnh nhất (+15%), trong khi các sản phẩm chế biến giảm 4% và các sản phẩm ướp lạnh giảm 19%. Ecuađo khẳng định vị trí nhà cung cấp số một cho Pháp với mức xuất khẩu tăng đáng kể (63%) so với năm ngoái (4.700 tấn) và đang củng cố thêm thị phần của mình (20%). Ấn Độ đã đạt vị trí nhà cung cấp lớn thứ hai cho thị trường Pháp với mức tăng 4%. Braxin tiếp tục để mất chỗ đững với chỉ 1.900 tấn, giảm 42% so vói cùng kỳ 2007. Nhìn chung, sức tăng trưởng trong nhập khẩu tôm ở Pháp là do sự hồi phục xuất khẩu của Mađagatca (+50%) so với năm ngoái. Mađagátca luôn là nhà cung cấp truyền thống tôm giá trị cao cho thị trường Pháp nhưng nhu cầu đã giảm nhẹ trong những năm gần đây, tạo cơ hội cho các nước sản xuất tôm giá rẻ hơn. Xuất khẩu của Côlômbía sang thị trường Pháp đã tăng liên tục trong những năm gần đây, cũng có mức tăng đáng chú ý 62%.
|
Nhập khẩu tôm của Pháp (đơn vị: 1000 tấn) |
|
|
Tháng 1-3 |
|
|
2005 |
2006 |
2007 |
2008 |
|
Ecuađo |
1,4 |
2,3 |
2,9 |
4,7 |
|
Ấn Độ |
1,2 |
1,9 |
2 |
2,1 |
|
Braxin |
5,1 |
3,2 |
3,3 |
1,9 |
|
Mađagátca |
1,6 |
1,3 |
1,3 |
1,9 |
|
Côlômbia |
0,7 |
0,7 |
1,1 |
1,8 |
|
Hà Lan |
2,2 |
1,4 |
1,4 |
1,5 |
|
Bỉ |
1 |
1,3 |
1,1 |
1,1 |
|
Nước khác |
7,5 |
7,6 |
8,3 |
8,4 |
|
Tổng cộng |
20,6 |
19,8 |
21,4 |
23,5 |
Thị trường tôm tiếp tục ảm đạm
Các nước xuất khẩu tôm như Thái Lan, Inđônêixa, Ecuađo, Ấn Độ… hiện đang mở rộng thị phần của mình trên thị trường Châu Âu do gặp khó khăn ở thị trường Mỹ cũng sẽ sớm gặp phải những khó khăn ở thị trường châu Âu, nơi tiêu thụ tôm đang giảm mạnh. Do tình hình kinh tế nói chung, giá tôm là không thể tiếp tục ở mức thấp.
Giá tôm trên thị trường thế giới có vẻ khác biệt với xu hướng tăng giá thực phẩm trên toàn cầu. Tình hình này sẽ không thể kéo dài. Sự biến động của giá tôm sẽ vẫn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chi phí khai thác, nuôi trồng, chế biến và vận chuyển… tăng. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước mắt, khả năng giá tôm tăng là rất ít bởi nhu cầu yếu ở thị trường EU hiện nay.