Giờ đây, các chính trị gia lo ngại rằng bất kì động thái ủng hộ việc khai thác nào, dù là nhỏ nhất, cũng có thể trở thành “hành động tự sát”.
Chính giá dầu tăng kỉ lục đã thôi thúc các hoạt động tìm kiếm và khai thác dầu khí tại những vùng biển xa bờ của Mỹ. Tại Florida, các hoạt động này thậm chí đã diễn ra trước thời điểm Tổng thống Bush, vào tháng trước, kêu gọi quốc hội Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm khoan thêm giếng dầu xa bờ - một sắc lệnh được áp dụng từ năm 1981.
Việc khai thác tại Florida đã được bắt đầu từ năm 2006, ngay khi có sự đồng thuận của Quốc hội cho phép xây dựng giàn khoan trong phạm vi mặt biển rộng 8,3 triệu acres, cách Panhandle 125 hải lý. Đây vốn là vùng biển bị cấm khai thác do có những lo ngại xung quanh vấn đề ô nhiễm môi trường.
Khi mà giá gas vượt ngưỡng 4 USD/gallon, đa phần người dân Mỹ, trong đó có người dân Florida, ủng hộ việc khai thác trở lại tại các vùng biển được bảo vệ. Một số chính trị gia, bao gồm cả Thống đốc bang Florida – ông Charlie Crist – cũng đồng ý với ý định trên.
Tom Moskitis – phát ngôn viên Hiệp hội khí đốt Mỹ - bày tỏ: “Ý kiến người dân mới là nhân tố quyết định một chính sách. Và giờ đây, họ mong muốn được khai thác dầu xa bờ”.
Cùng chia sẻ ý nghĩ đó, các công ty dầu khí, do bị chi phối bởi giá nhiên liệu tăng cao, cũng sẵn sàng mạo hiểm đầu tư 100 triệu USD hoặc nhiều hơn nữa để bắt đầu khai thác dầu tại những vùng biển mới. Bộ Nội vụ Hoa Kỳ ước tính có khoảng 18 tỷ thùng dầu và 77 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên nằm sâu dưới 574 triệu acres diện tích mặt biển hiện đang bị cấm.
Các hoạt động khai thác dầu xa bờ tại Panhandle, Florida đã diễn ra trong suốt nhiều thập kỉ qua. Trước khi có lệnh cấm năm 1981, một số công ty dầu khí đã kí hợp đồng dài hạn và họ đã khai thác rất tích cực. Sau khi sắc lệnh trên được ban hành một thời gian, vào những năm đầu thập kỉ 90, thi thoảng các công ty này vẫn tiếp tục các hoạt động của mình.
Tháng 3 năm nay, 4 tập đoàn gồm BHP Billiton (có trụ sở tại Australia), Anadarko E&P (có trụ sở tại Houston – Mỹ), Shell Offshore (Mỹ) và Eni SpA (Italia) đã giành được quyền thuê 36 vùng thuộc vịnh của Mexico theo quy ước của bản thỏa hiệp 2006.
Nhà phân tích Jeb Bachmann và cố vấn năng lượng Howard Wiel cho biết, cả 4 tập đoàn đều đã lường trước được những thay đổi rất có thể sẽ xảy ra đối với tình hình chính trị cũng như tài chính, nhưng rõ ràng họ vẫn nuôi hi vọng. Họ tin rằng giá dầu sẽ tăng cao hơn nữa, và thực tế đó sẽ ắt sẽ khiến chính phủ phải thay đổi quy định.
Ông Stuart Strive, phó giám đốc điều hành dự án khai thác phía Đông vịnh Anadarko cho biết, tập đoàn này đã thuê 7 vùng biển không bị cấm thuộc phía Nam Pensacola do chúng có vị trí gần với Independence Hub – một mỏ khí tự nhiên lớn nằm ngoài khơi tiểu bang Alabama, mỗi ngày phục vụ từ 1,5-2% nhu cầu khí đốt của toàn nước Mỹ. Các vùng biển được thuê cách Independence Hub 50 đến 75 dặm về hướng Đông.
Tuy nhiên, ông Strive cũng bổ sung rằng, việc thăm dò và khai thác khí tại những vùng biển mới bao giờ cũng tốn thời gian và tiền bạc. Đơn thuần như việc vẽ 3 bản đồ vùng nền biển – một yêu cầu bắt buộc trước khi lập giàn khoan – cũng sẽ mất khoảng 2 năm. Sau đó, khi một mỏ dầu được định vị chính xác, các kĩ sư sẽ phải khoan sâu 3 dặm dưới lòng biển để hút dầu và khí tự nhiên. Tiếp đó, cũng lại phải mất thêm mấy năm để tập đoàn có thể bắt tay vào sản xuất. Và tuyệt nhiên không hề có một sự đảm bảo nào cho 2 chữ “thành công”. Nói chung, một công ty khi xác định đầu tư giàn khoan dầu thì ít nhất phải bỏ ra 4 tỷ USD, cộng với chờ đợi trong 5 năm thì mới biết chắc có thu được lợi nhuận hay không.
Luật cấm khoan thêm giếng dầu năm 1981 vốn được ban hành để tránh tình trạng ô nhiễm môi trường khi hơn 10 năm trước, khi có một lượng lớn dầu tràn ngoài khơi thành phố biển Santa Barbara. Điều luật này ngăn không cho Bộ Nội vụ đầu tư khai thác dầu khí tại những vùng biển phía Tây của vịnh, cũng như tại một số vùng thuộc tiểu bang Alaska.
Thế nhưng, đã từng trước đây ủng hộ điều luật năm 1981, một số chính trị gia đến thời điểm này đã thay đổi quan điểm.
Thượng nghị sĩ John McCain tán thành việc bãi bỏ lệnh cấm và cho phép các bang có quyền tự quyết việc lập giàn khoan tại vùng biển của mình. Ông Crist – Thống đốc bang Florida, thành viên đảng Cộng hòa, ứng cử viên cho chức phó Tổng thống – cũng bày tỏ sự đồng tình với việc ngừng áp dụng lệnh cấm trên.
Nhưng vấn đề này vẫn tiếp tục gây ra rất nhiều tranh cãi.
Thượng nghị sĩ Bill Nelson – người đi đầu trong việc phản đối khai thác dầu xa bờ – đã chỉ trích những người đi ngược lại quan điểm của ông, đồng thời buộc tội ông Crist và McCain vì đã đặt lợi nhuận của các công ty dầu khí cao hơn doanh thu 65 tỷ USD/năm mà ngành du lịch biển đem lại.
Ông này phát biểu: “Các công ty dầu khí đã lợi dụng giá dầu cao kỉ lục để làm người dân hoang mang, khiến họ nghĩ rằng chỉ có khai thác dầu xa bờ mới là giải pháp thiết thực cho nhu cầu về nhiên liệu hiện nay. Trên thực tế, việc giá dầu tăng là hậu quả của cơn sốt đầu cơ, tích trữ, chứ không phải của nguồn cung thiếu’.
Dan McLaughlin – người phát ngôn của ông Nelson – cho biết thêm, bản thỏa hiệp năm 2006, cho phép khai thác có giới hạn tại một số vùng biển thuộc Panhandle, cần phải được các công ty dầu khí tôn trọng. “Đó là một thỏa hiệp hợp lý. Nó cho phép họ (các công ty dầu khí) đi đến những nơi họ muốn – những nơi có những mỏ dầu đã được thăm dò, đồng thời cũng hạn chế họ không gây ảnh hưởng đến kinh tế, môi truờng cũng như các khu vực diễn tập quân sự”. Thế nhưng, thay vì thực hiện một cách nghiêm túc, các công ty này lại bắt tay với các thành viên đảng Cộng hòa tiến hành khai thác trên diện tích mặt biển quá rộng.
Nhưng ông này vẫn quyết tâm: “Chúng ta sẽ một lần nữa đấu tranh để bảo vệ bản hiệp ước này”.