Giá dầu leo lên đến 100USD/thùng không chỉ gây khó khăn cho một nền kinh tế, mà còn ảnh hưởng tới cuộc sống của từng hộ gia đình do lạm phát cao và chi phí nhiên liệu tăng, đặc biệt là ở Mỹ và châu Âu.
Tăng trưởng giảm và lạm phát tăng
Trong bản báo cáo mùa thu 2007, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã hạ mức dự đoán tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2008 xuống còn khoảng 4,8%, nguyên nhân chính là do cuộc khủng hoảng tài chính và do giá nhiên liệu tăng. Dự báo của IMF dựa trên cơ sở giá dầu trung bình là 75 USD/thùng trong cả năm, thế nhưng nếu giá dầu tiếp tục tăng, kinh tế thế giới sẽ nhanh chóng có những phản ứng "khó chịu". Ngay mấy ngày đầu năm 2008, IMF ước tính có tới một phần sáu cơ hội tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ chỉ đạt 3,6%.
Theo đánh giá của phó Tổng giám đốc IMF John Lipsky, các nền kinh tế mới nổi tránh được cuộc khủng hoảng tài chính nhưng sẽ bị ảnh hưởng bởi giá dầu tăng, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ, Nga. Một số chuyên gia dự đoán, theo lôgíc, kinh tế toàn cầu phát triển chậm lại trong mấy tháng tới sẽ khiến giá dầu giảm. Ngân hàng Merril Lynch lại cho rằng giá dầu sẽ tiếp tục tăng cho tới khi chính phủ các nước có nền kinh tế mới nổi quyết định giảm nhu cầu năng lượng, hoặc các nước OPEC tăng nguồn cung. Francisco Blanch, chuyên gia về thị trường nguyên liệu của Merril Lynch còn đi xa hơn khi cho rằng giá dầu sẽ chỉ còn 70 USD/thùng vào quý 3 năm nay.
Tuy nhiên, trong khi chờ đợi tới lúc đó thì giá dầu leo thang vẫn là bài toán đau đầu đối với các ngân hàng trung ương, còn chỉ số giá tiêu dùng ở chừng mực nhất định lại tăng. Lạm phát tại Tây Ban Nha tháng 12/2007 đã lên tới 4,3%, tăng gần gấp đôi tháng 8/2007 (2,2%) với nguyên nhân chính là do giá dầu và đây cũng là lý do khiến cho lạm phát của Nhật Bản tháng 11 vừa qua, lên tới mức cao nhất 0,4% trong vòng 10 năm. Với xu hướng này, trong vài tuần tới các cơ quan quản lý tiền tệ có thể sẽ phải đối mặt với nguy cơ kinh tế trì trệ, tăng trưởng thấp và lạm phát cao.
Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ rơi vào tình thế khó xử nhất. Khác với ở Mỹ, ECB đã không tiến hành điều chỉnh chính sách tiền tệ, do lo ngại xu hướng lạm phát xuất hiện trong khi tăng trưởng của toàn bộ khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu có khả năng sẽ thấp hơn 2% vào năm nay. Trong khi đó, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã ba lần thay đổi lãi suất. Một số nhà kinh tế dự đoán lần giảm lãi suất thứ tư có thể sẽ diễn ra ngay cuối tháng này, mặc dù Fed cũng có chung lo ngại với ECB. Theo tính toán của Ngân hàng Credit Suisse, giá dầu tăng 10% sẽ khiến cho lạm phát của Mỹ tăng 0,3% và GDP giảm 0,2%.
Sự trở lại của tư tưởng dân tộc chủ nghĩa về dầu mỏ
Nguồn lợi khổng lồ từ dầu mỏ đã làm trỗi dậy tư tưởng dân tộc chủ nghĩa trong lĩnh vực này. Các nước xuất khẩu dầu tự nhiên có thêm nguồn sức mạnh mới và có động lực giành lại quyền kiểm soát nguồn tài nguyên mà giá trị đã tăng tới 63% trong vòng một năm qua. Sau Tổng thống Bôlivia Evo Morales, người đã tiến hành quốc hữu hoá ngành dầu khí vào mùa xuân năm 2006, chính phủ Nga, với chính sách "chấp nhận, nhưng không khuyến khích nước ngoài", đã yêu cầu xem xét lại hàng loạt hợp đồng phân chia khai thác mà họ đã ký kết trong thế yếu và khi giá dầu còn thấp (khoảng 20 USD/thùng) sau khi Liên Xô tan rã.
Năm 2007, bị quấy rối bởi hàng loạt cuộc thanh tra thuế và môi trường, hãng Shell và các nhà thầu Nhật Bản gồm Misui, Mitsubishi buộc phải nhượng lại khu mỏ khổng lồ Sakhaline 2 cho tập đoàn quốc doanh Gazprom của Nga. Tương tự, ExxonMobil đã phải chịu nhiều sức ép lớn từ Gazprom đối với dự án Sakhaline 1. Gazprom cũng nẫng tay trên BP của Anh với thoả thuận mua lại mỏ khí Kovytka.
Tại Vênêxuêla, Tổng thống Hugo Chavez đã buộc các công ty nước ngoài chuyển giao hợp đồng cho 21 công ty liên doanh, trong đó 60% cổ phần do công ty dầu khí nhà nước PDVSA quản lý. Equađo tiến hành quốc hữu hoá 15 mỏ dầu, trong khi Cadắcxtan yêu cầu tăng gấp đôi cổ phần của họ trong liên doanh với nhà thầu Italia ENI đang khai thác mỏ khí lớn tại Kashagan.
Angiêri đã phác thảo kế hoạch tự do hoá thị trường năng lượng vào năm 2005, nhưng đã lùi lại với quyết định các liên doanh phải để công ty quốc doanh Sonatrach giữ đa số cổ phần trong tất cả các dự án khi thác dầu khí.
Từ hơn 30 năm qua, chưa có công ty nước ngoài nào được phép tham gia khai thác, lọc và chế biến sản phẩm dầu mỏ tại Arập Xêút. Toàn bộ các ngành nói trên đều do Saudia Aramco, tập đoàn đứng đầu thế giới về khai thác, lọc dầu đảm nhiệm. Aramco cho rằng họ đủ khả năng tài chính và công nghệ và không cần có thêm bất cứ đối tác nào khác.
Cũng như vậy tại Côoét, luật cho phép công ty nước ngoài tham gia khai thác và lọc dầu đã không thông qua được trong nhiều năm nay.
Ngược với xu hướng trên, các nước vùng Vịnh khác lại khuyến khích mở cửa ngành năng lượng cho đầu tư nước ngoài và xu hướng này đang gia tăng do hầu hết các nước trên thiếu khả năng công nghệ để tái phát triển các mỏ cũ hoặc tìm kiếm thêm các mỏ dầu mới.
Libi mới đây đã yêu cầu đàm phán lại các hợp đồng khai thác ký kết từ trước với tham vọng giành được nhiều lợi ích hơn, nhưng sẵn sàng kéo dài thời gian hợp đồng. Iran cũng có những động thái cởi mở hơn nhằm thu hút các tập đoàn dầu khí đa quốc gia.
Theo đánh giá của Francis Perrin, Tổng biên tập tạp chí Dầu khí Arập, các nước trên thực sự có nhu cầu muốn tăng sản lượng khai thác của họ trong thời kỳ giá dầu "rẻ như nước lã" dường như đã kết thúc. Nếu không, với trình độ công nghệ hạn chế, sản lượng khai thác của các nước này không thể tăng. Bài học từ Nga là những ví dụ cho thấy đây là một hướng đi đúng đắn. Sản lượng khai thác dầu của Nga từ nhiều năm nay bị trì trệ do lĩnh vực này hoạt động thiếu năng động. Ngay cả Vênêxuêla, sau thời kỳ bột phát của tư tưởng Bolivar, chính quyền của Tổng thống Chavez đã tỏ ra ôn hoà hơn và phải tìm cách thu hút đầu tư nước ngoài tham gia vào khai thác các mỏ khí đốt ở nước này.

Nguồn: Internet