Giá cao su thiên nhiên trên thị trường thế giới liên tục tăng mạnh trong 2 tháng qua, lập kỷ lục cao kể từ tháng 9/2008 vào ngày 29/3/2010 do nguồn cung ở Thái Lan, nước xuất khẩu cao su lớn nhất thế giới, giảm và giá dầu mỏ tăng đẩy tăng chi phí sản xuất cao su tổng hợp – một sản phẩm của dầu mỏ, cạnh tranh trực tiếp với cao su thiên nhiên.
Tại Tokyo ngày 29/3/2010, giá cao su hợp đồng giao tháng 9 đã tăng lên mức 312,3 yen/kg (3.373 USD/tấn) sau khi tăng 5,9% trong vòng một tuần trước đó.
Giá cao su thiên nhiên đã tăng 13% từ đầu năm tới nay.
Các nhà xuất khẩu cao su thiên nhiên ở Thái Lan đã tăng giá sản phẩm này thêm 3% do nguồn cung suy giảm. Thái Lan đang trong mùa đông, là mùa sản lượng mủ cao su thấp. Mùa đông kéo dài từ tháng 2 tới tháng 4.
Cao su RSS-3 của Thái Lan, kỳ hạn giao tháng 5, giá tăng lên 3,40 USD/kg, tăng 0,3 US cent so với chỉ vài ngày trước đó.
Sản lượng ở Thái Lan và Malaysia, hai nước sản xuất lớn nhất thế giới, đã liên tục giảm từ cuối tháng 2 do thời tiết khôlàm giảm sản lượng mủ. Nông dân sẽ ngừng hoàn toàn việc thu hoạch mủ vào cuối tháng 4.
Dầu thô đang tăng giá trở lại, thoát khỏi mức thấp nhất của 2 tuần nay, do dự báo kinh tế hồi phục sẽ đẩy tăng nhu cầu nhiên liệu, và nỗi lo về cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp giảm bớt làm cho đồng Euro hồi phục nhẹ so với USD.
Dầu thô kỳ hạn tháng 5 giá tăng 0,8% lên 80,61 USD/thùng tại New York.
Tại Thượng Hải, cao su kỳ hạn tháng 9/2010 giá tăng lên mức 25.185 NDT (3.689 USD)/tấn vào ngày 29/3/2010, mức cao nhất kể từ ngày 1/3/2010.
Dự trữ cao su thiên nhiên tại Thượng Hải đã giảm 24.663 tấn xuống 74.220 tấn, dựa trên kết quả điều tra ở 10 kho chứa hàng. Đây là mức dự trữ thấp nhất kể từ tháng 8/2009.
Tại Ấn Độ, giá cao su thiên nhiên gần đây cũng tăng mạnh, vừa lập kỷ lục cao mới do hoạt động mua mạnh.
Về những thông tin liên quan, nông dân ở Côđivoa đang từ bỏ cây câco và chuyển sang trồng cao su, do năng suất cacao thấp, bởi sâu bệnh và cây già cỗi.
Hiệp hội Doanh nghiệp Cao su Myanmar đã xuất khẩu 60.000 tấn cao su từ đầu tài khoá 2009/10 tới nay, so với mục tiêu 70.000 tấn. Trong tài khoá 2008/09, nước này đã xuất khẩu 40.000 tấn. Myanmar xuất khẩu cao su chủ yếu sang Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Thái lan, Indonexia, Hàn Quốc và Ấn Độ. Ngoài cao su, đay, bông và cây cho hạt có dầu là những cây trồng chính ở Myanmar.
Tại Thái lan, 3 nhà máy chế biến cao su sẽ được thành lập ở khu vực Đông bắc, với chi phí gần 500 triệu Baht. Ba nhà máy này sẽ chế biến khoảng 60.000 tấn cao su mỗi năm. Trong tương lai, những nhà máy này không chỉ chế biến cao su ở khu vực Đông bắc, mà còn có thể chế biến cả cao su đến từ khu vực phía Bắc và các nước láng giềng là Campuchia và Lào.
|
Loại
|
ĐVT
|
29/3
|
18/3
|
11/3
|
01/3
|
23/2
|
15/2
|
8/2
|
|
Tokyo (T8/10)
|
USD/kg
|
312,3
|
286,7
|
293,7
|
300
|
298,7
|
276,3
|
267,7
|
|
Thai RSS3 (T4/10)
|
USD/kg
|
3,50
|
3,32
|
3,31
|
3,27
|
3,25
|
3,13
|
3,00
|
|
Thai STR20 (T4/10)
|
USD/kg
|
3,40
|
3,30
|
3,30
|
3,25
|
3,24
|
3,10
|
3,00
|
|
Malaysia SMR20 (T4/10)
|
USD/kg
|
3,30
|
3,25
|
3,28
|
3,24
|
3,20
|
3,07
|
2,98
|
|
Indonesia SIR20 (T4/10)
|
USD/lb
|
1,47
|
1,42
|
1,47/lb
|
1,47
|
1,45/lb
|
1,38/lb
|
1,34/lb
|
|
Thai USS3
|
baht/kg
|
105
|
101
|
101
|
101
|
100
|
97
|
91,50
|
|
Thai 60-percent latex
|
USD/tấn
|
2400
|
2.350
|
|
2.300
|
|
|
|
|
Thai 60-percent latex (bulk, T4/10)
|
USD/tấn
|
2300
|
2.250
|
2.200
|
2.200
|
2.150
|
2.100
|
2.000
|
(Vinanet)