Trong quý I năm 2010, kết quả hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam với Hoa Kỳ có nhiều dấu hiệu lạc quan. So với cùng kỳ các năm trước, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam quý I/2010 sang thị trường Hoa Kỳ đạt mức cao nhất từ trước đến nay.
Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy trong quý I/2010, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam với tổng trị giá đạt gần 2,84 tỷ USD, tăng mạnh 23,2% so với cùng thời gian năm trước và chiếm tới 19,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của tất cả các doanh nghiệp Việt Nam. Ở chiều ngược lại, trong quý I/2010, tổng trị giá hàng hoá các công ty Việt Nam nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ đạt 809 triệu USD, tăng mạnh 77,8% so với cùng kỳ của một năm trước. Nguyên nhân chính khiến kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này tăng mạnh là do trị giá nhập khẩu thức ăn gia súc & nguyên liệu tăng đột biến với 139 triệu USD, tăng 120 triệu USD so với quý I/2009.
Nếu duy trì đà tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân quý I/2010 thì tổng kim ngạch trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong năm 2010 ước có thể đạt lên đến con số 19 tỷ USD, thậm chí con số này có thể lên đến 20 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa có thể đạt hơn 14 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt hơn 5 tỷ USD.
Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam-Hoa Kỳ giai đoạn 2005-2009 và quí I/2010
ĐVT: triệu USD
|
|
Nhập khẩu
|
Xuất khẩu
|
|
Năm 2005
|
863
|
5.905
|
|
Năm 2006
|
982
|
7.829
|
|
Năm 2007
|
1.700
|
10.089
|
|
Năm 2008
|
2.635
|
9.233
|
|
Năm 2009
|
3.006
|
11.356
|
|
Quí I/2010
|
809
|
2.838
|
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong những năm qua bao gồm hàng dệt may, gỗ & sản phẩm gỗ, giày dép các loại, dầu thô, hàng hải sản, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện, ...
Hoa Kỳ cũng là một trong những thị trường lớn nhất về nhập khẩu một số mặt hàng chính của nước ta giai đoạn 2005-2009 như sau: dệt may (chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước); giày dép (chiếm 23%), gỗ và sản phẩm gỗ (chiếm 33%), ...
Thống kê kim ngạch, tỷ trọng kim ngạch một số nhóm hàng chính Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ năm 2009 và quý I/2010
|
Chỉ tiêu
|
Kim ngạch (triệu USD)
|
Tỷ trọng 1 (%)
|
Tỷ trọng 2 (%)
|
Tăng/giảm so với năm trước (%)
|
|
Năm
Tên hàng
|
2009
|
Quý I/2010
|
2009
|
Quý I/2010
|
2009
|
Quý I/2010
|
2009
|
QuýI/2010/quý I/2009
|
|
Hàng dệt may
|
4.995
|
1.288
|
44,0
|
45,4
|
55,1
|
57,9
|
-2,2
|
23,0
|
|
Gỗ & sản phẩm gỗ
|
1.100
|
279
|
9,7
|
9,8
|
42,4
|
37,4
|
3,4
|
37,2
|
|
Hàng giày dép
|
1.039
|
263
|
9,1
|
9,3
|
25,5
|
26,2
|
-3,4
|
6,3
|
|
Dầu thô
|
470
|
78
|
4,1
|
2,7
|
8,2
|
6,2
|
-52,9
|
-17,5
|
|
Hàng thủy sản
|
711
|
143
|
6,3
|
5,0
|
16,8
|
16,0
|
-3,8
|
26,5
|
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện
|
433
|
124
|
3,8
|
4,4
|
15,7
|
17,7
|
42,0
|
42,9
|
|
Hạt điều
|
255
|
42
|
2,2
|
1,5
|
30,1
|
26,6
|
-4,8
|
-4,2
|
|
Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù
|
224
|
62
|
2,0
|
2,2
|
30,7
|
33,4
|
-4,7
|
46,6
|
|
Cà phê
|
197
|
60
|
1,7
|
2,1
|
11,4
|
12,5
|
-6,5
|
-9,5
|
|
Hàng hóa khác
|
1.932
|
499
|
17,0
|
17,6
|
7,6
|
7,3
|
5,7
|
38,7
|
|
Tổng kim ngạch
|
11.356
|
20838
|
100
|
100
|
19,9
|
19,6
|
-4,3
|
23,1
|
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Ghi chú: Tỷ trọng 1: tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng đó trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ
Tỷ trọng 2: tỷ trọng xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng đó của Việt Nam
Hàng dệt may: là một trong những mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, có đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đây cũng là nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ (khoảng 43% trong giai đoạn 2005-2009). Sản phẩm dệt may của Việt Nam đang ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà nhập khẩu và được Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (USITC) nhận định: Việt Nam là một trong những nước hàng đầu ở châu Á có khả năng cạnh tranh được với Trung Quốc trong lĩnh vực dệt may. Hiệp hội Nhập khẩu Dệt may Hoa Kỳ cũng cho biết Việt Nam là sự lựa chọn thứ hai của các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ sau Trung Quốc khi tìm kiếm nguồn cung cấp hàng từ châu Á. Đặc biệt khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO nên không còn chịu sức ép về hạn ngạch khi xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này. Số liệu thống kê cho thấy một điểm đáng lưu ý là trong nhóm hàng này tỷ trọng hàng gia công rất cao, chiếm hơn ½ tổng trị giá nhóm hàng này Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
Gỗ & sản phẩm gỗ: Với nguồn cung dồi dào, nguồn nhân lực sẵn có, ngành công nghiệp nhẹ chế biến gỗ đang trên đà phát triển hơn với tỷ trọng giao động quanh mức khoảng 10%. Vị trí đóng góp vào tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ của nhóm hàng này cũng được cải thiện đáng kể. Cụ thể, nhóm hàng này đứng vị trí thứ 8 – 9 sắp theo thứ tự giảm dần của các năm 2003, 2004 thì lần lượt đến các năm 2005, 2006, sản phẩm này vươn lên vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng và vươn lên vị trí thứ hai trong năm 2009.
Giày dép: Cùng nằm trong nhóm hàng công nghiệp nhẹ như dệt may, sản phẩm giày dép có mức xuất khẩu tăng trưởng khá qua các năm giai đoạn 2005-2009. Tuy nhiên so với trị giá xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU27) thì vẫn chưa xứng với tiềm năng của cả hai nước. Tổng trị giá xuất khẩu hàng giày dép sang Hoa Kỳ chỉ bằng 1/3 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam sang thị trường EU. Do đó, trong thời gian tới các doanh nghiệp giày dép cần đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường tiềm năng rất lớn này.
Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Hoa Kỳ trong những năm qua bao gồm máy móc thiết bị & dụng cụ phụ tùng, bông các loại, chất dẻo nguyên liệu, thức ăn gia súc & nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may da giày, ...
Trong giai đoạn 2005 - 2009, cơ cấu mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ luôn đứng đầu là nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng và chiếm tỷ trọng khoảng 1/5 tổng trị giá hàng hoá Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ.
Bảng 4: Thống kê kim ngạch, tỷ trọng kim ngạch một số nhóm hàng chính Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ năm 2009 và quý I/2010
|
Chỉ tiêu
|
Kim ngạch
(triệu USD)
|
Tỷ trọng 1 (%)
|
Tỷ trọng 2 (%)
|
Tăng/giảm so với năm trước (%)
|
|
Năm
Mặt hàng
|
2009
|
Quý I/2010
|
2009
|
Quý I/2010
|
2009
|
Quý I/2010
|
2009
|
QuýI/2010/
quý I/2009
|
|
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
|
716
|
154
|
23,8
|
19,0
|
5,7
|
5,3
|
68,9
|
15,8
|
|
Ô tô các loại
|
268
|
22
|
8,9
|
2,7
|
21,3
|
13,9
|
4,9
|
14,6
|
|
Bông các loại
|
192
|
46
|
6,4
|
5,7
|
48,9
|
30,8
|
-1,5
|
69,0
|
|
Chất dẻo nguyên liệu
|
147
|
32
|
4,9
|
4,0
|
5,2
|
4,2
|
-6,4
|
79,3
|
|
Thức ăn gia súc và nguyên liệu
|
176
|
139
|
5,9
|
17,2
|
10,0
|
22,6
|
25,5
|
631,7
|
|
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày
|
77
|
30
|
2,6
|
3,7
|
4,0
|
5,8
|
-42,1
|
138,4
|
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
|
89
|
27
|
3,0
|
3,3
|
2,3
|
2,7
|
-31,3
|
73,9
|
|
Gỗ và sản phẩm gỗ
|
104
|
34
|
3,5
|
4,2
|
11,5
|
15,4
|
-15,7
|
103,0
|
|
Sữa và sản phẩm sữa
|
46
|
23
|
1,5
|
2,8
|
8,9
|
13,4
|
-27,6
|
120,5
|
|
Sản phẩm hóa chất
|
93
|
27
|
3,1
|
3,3
|
5,9
|
6,4
|
66,6
|
64,2
|
|
Hàng hóa khác
|
1.098
|
275
|
36,5
|
34,0
|
2,6
|
2,5
|
14,6
|
65,2
|
|
Tổng kim ngạch
|
3.006
|
809
|
100
|
100
|
4,3
|
4,5
|
14,1
|
77,8
|
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Ghi chú: Tỷ trọng 1: tỷ trọng nhập khẩu nhóm hàng đó trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ.
Tỷ trọng 2: tỷ trọng nhập khẩu từ Hoa Kỳ trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng đó của Việt Nam.
Tóm lại, mặc dù trị giá buôn bán hàng hóa của Việt Nam với Hoa Kỳ trong quý I/2010 có nhiều dấu hiệu lạc quan nhưng trong thời gian tới để có thể tăng thị phần xuất khẩu vào thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất thế giới này, các doanh nghiệp Việt Nam cần thúc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang Hoa Kỳ, đồng thời tăng cường hơn nữa các hoạt động xúc tiến thương mại giữa hai nước trong các khuôn khổ: doanh nghiệp-doanh nghiệp, diễn đàn-diễn đàn, hiệp hội-hiệp hội, cơ quan chính phủ-cơ quan chính phủ và cao hơn nữa là giữa Chính phủ của hai nước.
Một điểm đáng chú ý là xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam sang thị trường này chiếm hơn 60% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam nhưng nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI từ thị trường này chiếm tỷ trọng chưa đến 1/3. Mặt khác, từ trước đến nay các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu chỉ làm hàng gia công cho những đối tác thương mại của Việt Nam sau đó xuất khẩu Hoa Kỳ.
Số liệu Thống kê Hải quan mới nhất cho thấy trị giá hàng gia công chiếm hơn 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường này. Do đó, các nhà xuất khẩu Việt Nam cần nâng cao giá trị gia tăng trong sản phẩm đồng thời phải quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng thương hiệu nhằm tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường và tạo niềm tin tốt hơn đối với người tiêu dùng ở thị trường có tiềm năng rất lớn này./.
(TCHQ)