Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan Việt Nam, nhập khẩu nhóm hàng thủy tinh và các sản phẩm thủy tinh tháng 12/2025 tăng 14,6% so với tháng 11/2025 và tăng 25,1% so với tháng 12/2024, đạt gần 150,4 triệu USD. Tính chung cả năm 2025 nhập khẩu nhóm hàng này đạt gần 1,43 tỷ USD, giảm 4,7% so với cả năm 2024.
Thủy tinh và các sản phẩm thủy tinh nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Trung Quốc trong năm 2025, chiếm tới 67,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt gần 960,76 triệu USD, giảm nhẹ 2% so với năm 2024; trong đó riêng tháng 12/2025 đạt trên 106,26 triệu USD, tăng 13,2% so với tháng 11/2025 và tăng 41,5% so với tháng 12/2024.
\Biểu đồ Nhập khẩu thủy tinh và các sản phẩm thủy tinh từ các thị trường chủ yếu năm 2025

Nguồn: VITIC tổng hợp từ CHQ
Ngoài thị trường chủ đạo trên, thì nhóm hàng này còn nhập khẩu từ thị trường Malaysia đạt trên 113,24 triệu USD, chiếm tỷ trọng 7,9%, giảm 5,2% so với năm 2024; riêng tháng 12/2025 nhập khẩu từ thị trường này đạt trên 6,25 triệu USD, giảm 14,1% so với tháng 11/2025 và giảm mạnh 54,6 % so với tháng 12/2024.
Tiếp đến thị trường Hàn Quốc trong tháng 12/2025 tăng 22,9% so với tháng 11/2025 và tăng 56,9% so với tháng 12/2024, đạt trên 9,31 triệu USD; cộng chung cả năm 2025 nhập khẩu từ thị trường này giảm 9,4% so với năm 2024, đạt trên 85,82 triệu USD, chiếm 6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Nhập khẩu Thủy tinh và các sản phẩm thủy tinh từ thị trường Nhật Bản năm 2025 đạt gần 70,37 triệu USD, giảm 48,8% so với năm 2024, chiếm 4,9% trong tổng kim ngạch. Riêng tháng 12/2025 đạt 7,59 triệu USD, tăng 4,5% so với tháng 11/2025 và tăng 15,2% so với tháng 12/2024.
Nhập khẩu thủy tinh và các sản phẩm thủy tinh từ thị trường FTA RCEP trong năm 2025 giảm 6,8% so với năm 2024, đạt trên 1,32 tỷ USD, chiếm 92,4% trong tổng kim ngạch; Nhập khẩu từ thị trường FTA CPTTP giảm 28,5%, đạt gần 183,61 triệu USD, chiếm 12,9%. Nhập khẩu từ thị trường EU chiếm tỷ trong nhỏ 2% trong tổng kim ngạch, đạt trên 28,24 triệu USD, tăng 10,8%. Nhập khẩu từ thị trường Đông Nam Á chiếm 14,2% trong tổng kim ngạch, đạt gần 203,26 triệu USD, giảm 0,02%.
Nhập khẩu thủy tinh và các sản phẩm thủy tinh năm 2025
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/1/2026 của CHQ)
                                                                           ĐVT: USD

Nhập khẩu thủy tinh và sản phẩm thủy tinh từ các thị trường năm 2025

Năm 2025, việc nhập khẩu thủy tinh và sản phẩm thủy tinh vào Việt Nam tuân theo các quy định về tự công bố sản phẩm, sử dụng mã HS (ví dụ: 7010.10.00 cho chai lọ ampoule, 7010.90.91 cho chai lọ > 1L, 7010.90.99 cho loại khác), và có thể hưởng ưu đãi thuế nếu có Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) phù hợp, trong khi các quy định nhập khẩu mới tại Mỹ (từ 2026) và các thách thức từ thị trường quốc tế cũng định hình xu hướng, yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao chất lượng và minh bạch hóa chuỗi cung ứng.
Các mặt hàng nhập khẩu chính & Mã HS:
Chai lọ thủy tinh: Dùng trong ngành thực phẩm, dược phẩm (Chai lọ có nắp thủy tinh 7010.20.00, chai lọ > 1L 7010.90.91, loại khác 7010.90.99).
Bông thủy tinh: Không cấm nhập khẩu, nhưng yêu cầu xác định đúng mã HS để tính thuế, thường có nguồn gốc từ Trung Quốc, Mỹ, Nga....
Thuế suất (Ưu đãi):
Chai lọ thủy tinh có nắp thủy tinh (7010.20.00): 10%.
Chai lọ thủy tinh dung tích > 1L (7010.90.91): 20%.
Các loại khác (7010.90.99): 20%.
Thuế có thể thay đổi tùy theo FTA (EU, CPTPP) và C/O.
Nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu các sản phẩm giá trị gia tăng (thủy sản chế biến) có xu hướng tăng, nhưng đối mặt rào cản kỹ thuật. Các thị trường lớn như Mỹ có thể áp dụng thuế suất đối ứng hoặc yêu cầu khắt khe hơn về nguồn gốc, lao động (áp dụng từ 2026). Doanh nghiệp cần tập trung vào chất lượng, minh bạch chuỗi cung ứng để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

Nguồn: Vinanet/VITIC